Thứ Tư, 8 tháng 3, 2017

Thu 20 tỷ mỗi năm nhờ nuôi cá chép giòn

“Việc lựa chọn về quê ương nuôi cá chép giòn vừa là thách thức, vừa là niềm đam mê của tôi. Để theo đuổi nó, tôi đã từ bỏ vị trí trưởng phòng kinh doanh với mức lương khởi điểm hơn 10 triệu đồng/tháng”. Anh Nguyễn Thế Phước (1989 – Hải Dương), chàng trai được mệnh danh “Tỷ phú cá chép giòn” chia sẻ.
Khởi đầu khó khăn với nghề nuôi cá chép giòn
ca-chep-gion"Tỷ phú cá chép giòn" - anh Nguyễn Thế Phước
Với suy nghĩ “không phải đi xa, mình có thể lập nghiệp trên chính quê hương”, anh Phước quyết định rời thành phố để thực hiện đam mê của mình. Tuy nhiên, do còn ít kinh nghiệm nên bước khởi đầu của anh gặp nhiều khó khăn. Thậm chí, anh từng mất không cả trăm triệu đồng vì vận chuyển sai cách khiến cá giống mua về gần như chết hết. Được biết, đó là khoảng thời gian rất phiền não nhất đối với anh. 
Nhưng không nản chí, bằng niềm đam mê kinh doanh mãnh liệt cùng sự ủng hộ nhiệt tình của cha mà anh đã tiếp tục học hỏi, phát triển ngành nghề này.  Cho đến nay, anh Phước đã sở hữu cả trăm lồng cá trên lòng sông Kinh Thầy. Với giá bán của cá chép giòn trên thị trường dao động từ 130,000 – 145,000đ/kg, mỗi vụ cá anh thu về cả 6, 7 tỷ đồng.
Học hỏi bí kíp ương nuôi của “Tỷ phú cá chép giòn” - thủy sản minh phú
Ngay khi được hỏi về kỹ thuật ương nuôi để đạt được lợi nhuận cao như vậy, anh Phước không ngần ngại mà chia sẻ với chúng tôi: “Với điều kiện địa hình tại tỉnh Hải Dương, xét thấy phương pháp nuôi lồng là phù hợp nhất nên tôi quyết định áp dụng  mô hình này trong việc nuôi thả giống cá chép giòn” . Dưới đây là ghi chép chi tiết về kỹ thuật nuôi này.
1.Thiết kế lồng nuôi
Lồng nuôi có thể mua hoặc tự làm, tuy nhiên, để tiết kiệm chi phí bà con nhân dân nên mua thép về làm. Kích thước lồng nuôi nên thiết kế theo tỷ lệ: 8m×2,5m×2m và mỗi lồng nên chia làm 2 ô có diện tích tương đương. Để cho lồng nổi, cần gắn cố định phao được làm bằng thùng phi hoặc phi nhựa với khung lồng.
2.Đảm bảo nguồn nước sạch để nuôi cá
nguon-nuoc-sachNguồn nước nuôi cá phải sạch và không nhiễm độc
Nuôi cá chép giòn bằng hình thức nuôi lồng cần có nguồn nước chủ động để kịp thời bổ sung cho ao nuôi, đảm bảo mức nước trong ao luôn trong khoảng từ 1,5 – 2m. Chất nước không được nhiễm bẩn, không có chất độc, hàm lượng oxy từ 3mg/l trở nên, độ PH từ 7 – 8,5. Thường xuyên bổ sung nước cho ao nuôi có tác dụng kích thích sự phát triển của các sinh vật làm thức ăn cho cá và cải thiện môi trường nuôi giúp cá phát triển nhanh.
3.Chọn giống và thả giống
Có thể nói bước lựa chọn con giống là bước cần sự cẩn thận và tỉ mỉ nhất, vì chỉ khi chọn được cá giống khỏe mạnh thì tỷ lệ sống ở cuối vụ mới tăng cao. Nên chọn những con cá khỏe mạnh, hoạt động linh hoạt, và bơi lội nhanh nhẹn. Kích thước cá giống nên đồng đều nhau, có chiều dài từ 17 – 20cm.
Trong quá trình thả cá giống, bà con cần lưu ý đến mật độ thả cá. Nếu thả quá nhiều con trong một lồng sẽ khiến không gian sinh sản và phát triển của cá bị bó hẹp, như vậy trọng lượng trung bình của cá sẽ giảm xuống. Bà con cũng không nên thả cá với mật độ quá thưa sẽ bỏ phí diện tích nuôi trồng. Mật độ thả cá thích hợp nhất nên là 8 con/m3 lồng
4.Thức ăn cho cá
Thức ăn chủ yếu của cá chép giòn là những sinh vật phù du, tảo, rêu, cá tép dầu … Tuy nhiên, để cá lớn nhanh và khỏe mạnh, bà con nên cho cá ăn thêm thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn được chế biến như: Cám gạo, bột ngô, bột cá, hay cá tạp băm nhuyễn. Một ngày nên cho cá ăn làm 2 bữa, bữa sáng từ 6 – 7h và bữa chiều từ 17 – 18h.
nuoi-ca-longLượng thức ăn phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của cá
Trong quá trình nuôi bà con cần theo dõi sự tăng trưởng của cá để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp. Trong giai đoạn đầu lượng thức ăn cần thiết cho cá chép giòn chiếm khoảng 4 – 5% khối lượng cá. Khi cá đạt kích cỡ 100g, cần giảm lượng thức ăn cho cá xuống 3 – 4%.
Trong quá trình chia sẻ, anh Phước đã nhấn mạnh rằng nguồn nước chính là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình nuôi thành công giống cá chép giòn. Theo như anh cho biết, việc nguồn nước bị ô nhiễm không những khiến tỷ lệ cá sống giảm xuống mức tối thiểu, mà còn làm cho cá bị nhiễm độc, ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng. Vì vậy bà con nhân dân cần quan tâm chú ý hơn đến việc lựa chọn nguồn nước nuôi thả cá.

Ương nuôi cá giống nước ngọt – kỹ thuật tạo nên những con giống tốt

Thời gian gần đây, ương nuôi cá giống tự phục vụ nuôi trồng đang được nhiều hộ nông dân ở hầu hết các địa phương trên cả nước thực hiện. Người nuôi nhờ những kinh nghiệm thực tiễn đã ương nuôi thành công nhiều loại giống cá khác nhau phục vụ cho nghề nuôi cá cũng như giảm chi phí. Tuy nhiên, để có đàn cá giống tốt phục vụ cho nuôi thương phẩm, bà con cần đặc biệt chú trọng đến khâu ương nuôi từ giai đoạn cá bột tới cá giống.
Chuẩn bị ao ương cá giống - thủy sản minh phú
Ao có diện tích từ 500 – 1000m2 và có dạng hình chữ nhật. Chất đáy tốt nhất là đất cát hoặc cát pha với độ dày bùn đáy không quá 15cm. Riêng với ương cá trắm cỏ thì không cần để bùn đáy vì không phải gây màu nước). Ao ương có đường cấp và thoát nước chủ động để thay đổi môi trường nước giúp cá nhanh lớn và hạn chế mầm bệnh.
Ao được bơm cạn, vét bùn đáy rồi dùng vôi bột hoặc vôi nung với liều lượng 7 – 10kg/100m2. Sau đó, gia cố bờ ao chắc chắn để tránh rò rỉ, lấy nước vào ao qua lưới lọc, đồng thời bà con có thể tiến hành diệt tạp và khử trùng nước bằng Chlorine với liều lượng 3g/m3 nước. sau 5 – 7 ngày diệt tạp có thể gây màu nước và thả cá.
ca-giong-1
Chuẩn bị ao ương cá
Gây màu nước và ương cá giống
Tùy vào đối tượng cá ương nuôi cụ thể mà bà con có thể tiến hành gây màu nước hoặc không. Khi tiến hành ương một số loại cá như cá chép, mè hoa, mè trắng...cần phải gây màu nước để tạo thức ăn tự nhiên cho cá.
Cách gây màu nước: Gây màu bằng đạm và lân, với lượng 100 – 200g/100m3 nước theo tỷ lệ N:P là 2:1, bón khi trời có nắng đến khi nước có màu xanh vỏ đậu (đậu tằm) là có thể thả cá bột xuống ương.
- Giai đoạn cá bột, cần phải cho cá ăn bằng cám gạo nấu chín hoặc lòng đỏ trứng vì lúc này cá còn nhỏ chưa ăn được các thức ăn khác.
- Giai đoạn cá hương từ 2cm đến 5-6cm, cá ăn thức ăn của loài, vì vậy có thể ương đơn hoặc ương ghép. Đối với cá trắm cỏ giai đoạn này có thể ương với mật độ 3.500-4.000 con/100m2. Hoặc ương ghép với tỷ lệ 70% cá trắm cỏ và 30% cá mè hoa hoặc mè trắng. Cá giống ở giai đoạn từ 6-10 cm hoặc lớn hơn thì ương với mật độ 1.500-2.000 con/m2.
Chăm sóc và quản lý cá giống ương nuôi - THỦY SẢN MINH PHÚ
Ương nuôi cá chép giai đoạn từ 2-3cm ương lên 8-10cm, có thể cho ăn thức ăn nhân tạo với lượng 4 kg/10.000 con/ngày trong 2 tuần đầu và tăng lên ở các tuần tiếp theo. Thành phần chủ yếu là thức ăn xanh và cám gạo.
Cá trắm cỏ thức ăn chủ yếu là thực vật, các loại rau, bèo và bổ sung thêm chất bột. Lượng thức ăn cho cá từ 40-60 kg/10.000 cá, ở giai đoạn ương từ 5- 6cm lên 10-12cm. Bên cạnh đó, cần thường xuyên kiểm tra chất lượng nước và gây màu nước trong ao định kỳ 1 lần/tuần để đảm bảo thức ăn tự nhiên cho cá. Theo dõi, kiểm tra xem có bị nổi đầu vào buổi sáng sớm không để có biện pháp khắc phục kịp thời.

Bổ sung thêm chất bột cho cá
Phòng, trị bệnh cho cá giống gia đoạn ương nuôi - THỦY SẢN MINH PHÚ
Cần theo dõi và điều trị kịp thời các bệnh trên cá giống. Bằng cách bổ sung dinh dưỡng vào thức ăn cho cá, định kỳ dùng vôi với liều lượng 2 - 6 kg vôi bột/100m3 nước, hòa vào nước rải đều xuống ao 2 tuần/lần để phòng bệnh cho cá. Với phân chuồng, nếu muốn bón xuống ao thì cần ủ với vôi với lượng 5-7 kg/100 kg phân trong vòng 20 trước để tránh gây ra các bệnh về vi rút, vi khuẩn ở cá giồng và làm ô nhiễm môi trường nước.
ca-giong-3
Kiểm tra ao ương cá giống thường xuyên
Ngoài ra, để đảm bảo cá giống ít bị hao hụt khi vận chuyển xa, cần luyện ép cá bằng cách dùng trà gai, cào tre rồi kéo khắp ao làm cho ao sục bùn hoặc dùng lưới kéo cá dồn lại góc ao khoảng 20-30 phút rồi lại thả ra, làm liên tục trong vòng 1 tuần trước khi vận chuyển cá.
Ương nuôi cá giống là khâu quan trọng để tạo ra những con giống tốt phục vụ cho quy trình nuôi. Vì vậy, ngay từ bước này, người nuôi cần có cách ươm nuôi cũng như chăm sóc phù hợp để đạt chất lượng con giống tốt nhất. Ngoài ra, để đảm bảo quy trình nuôi thương thẩm đạt hiệu quả cao nhất, người nuôi nên lựa chọn những địa chỉ cung cấp giống uy tín như Trung tâm Thủy sản Minh Phú để lựa chọn những con giống tốt và chất lượng nhất.

Bội thu nhờ áp dụng thành công kỹ thuật ương cá bột lên cá giống

Cá bột hay còn gọi là cá ương là một giai đoạn phát triển trong vòng đời của loài cá. Đời sống của chúng bắt đầu từ khi trứng cá nở thành ấu trùng, sau đó chuyển đổi sang 1 cá thể thuần thục thì gọi là cá giống. Cá giống được coi là mô hình nhân tạo để tạo ra những thương phẩm hảo hạng ngày nay. Việc chủ động được nguồn giống sẽ phần nào giúp bà con ngư dân khắc phục được tình trạng nhập khẩu con giống không rõ nguồn gốc, tránh mầm bệnh và đảm bảo được chất lượng trong vụ nuôi.
Kỹ thuật ương cá bột lên cá giống
Điều kiện bể ương: Chuẩn bị ao đất để ươm cá giống. Đối với các loại cá nước ngọt như cá rô phi,.. chúng có thể sống được ở diện tích ao nuôi nhỏ hoặc lớn. Tuy nhiên, nếu như ao có diện tích quá nhỏ sẽ làm hiệu quả kinh tế kém và khó tạo ổn định môi trường, nhưng ao quá lớn việc chăm sóc quản lý phức tạp, do đó nên chọn ao ương giống khoảng từ 300 – 1000 m2.
Mô hình ươm cá bột lên cá giống trong ao
Mô hình ươm cá bột lên cá giống trong ao
Ao ương giống phải chủ động được trong việc cấp thoát nước khi cần thiết, chiều sâu mực nước trong ao phải từ 1,5 – 2m để cá có không gian di chuyển và trú ẩn khi trời nắng nóng hoặc trở rét. Mặt ao nên vớt hết bèo, rác để ánh mặt trời có thể chiếu xuống được nước, cung cấp nguồn oxi giúp cá hô hấp và tạo điều kiện cho các vi sinh vật phát triển làm nguồn thức ăn tự nhiên cho cá. Trên bờ ao, nên được bao bố kiên cố, phát hết cỏ dại tránh um tùm làm cho ếch nhái trú ẩn (vì trứng ếch nhái có thể mang mầm bệnh vào trong ao nuôi) và những động vật ăn thịt như rắn,.. có thể săn cá giống làm nguồn thức ăn.
Trước khi tiến hành thả cá ương nuôi lên cá giống, bà con nông dân cần cải tạo hệ thống ao bằng các biện pháp giống như thả cá nuôi, nhưng sau khi lấy nước vào 1/3 ao phải tiến hành bón phân tạo màu nước để tạo nguồn thức ăn cho cá. Thông thường các ngư dân thường sử dụng phân vô cơ (urê & super photphate) theo tỷ lệ N/P = 2/1, liều lượng tương ứng 200 g/100m3 nước; Sử dụng phân xanh từ những cây họ đậu hoặc lá cây so đũa với liệu lượng 10 – 15 kg/100m2, đối với phân xanh bà con lên bó lại thành nhiều bó rồi dìm xuống ao ương không cho nổi lên mặt nước. Trong trường họp sử dụng phân chuồng, nên điều chỉnh liều lượng từ 25 – 30 kg/100m2, rải đều khắp mặt đáy ao. Sau khi bón từ 3 – 5 ngày nước chuyển sang màu xanh nõn chuối thì tiến hành thả cá ương nuôi. Trong quá trình nuôi từ cá bột lên cá giống, bà con cần tăng mực nước lên từ từ trong vòng 5 – 7 ngày ở độ cao từ 1,2 – 1,5m.
Nhiều hộ gia đình không có ao để ương cá giống, có thể đào hố xây bể xi măng lót nilon để ương cá, diện tích khoảng vài chục m2, phải giữ được nước, không rò rỉ, chiều sâu mực nước duy trì ở mức 0,5 – 0,7 là thích hợp. Trước khi ương, bể phải được rửa sạch phơi nắng từ 1 -  ngày sau đó cho nước sạch vào bể, ngày hôm sau có thể cho cá vào uong. Do diện tích nhỏ, nên khi ương cá giống trong bể không cần phải bón phân, có thể sử dụng nguồn thức ăn chế biến trong những ngày đầu để cá có thể sinh trưởng tốt. Lưu ý nên thả nhiều thức ăn xuống bể gấp 2 lần để gây màu nước xanh, tạo điều kiện cho tảo phát triển làm thức ăn cho cá.
Thức ăn cho cá ương
Đối với ao nuôi, mật độ thả cá tù 1.500 – 2.000 con/m3 là thích hợp. Trong tuần đầu tiên, cho cá bột ăn lòng đỏ trứng gà và sữa bột đậu nành với khẩu phần: 3 lòng đỏ trứng gà với 100g sữa bột cho 10.000 con cá bột/ngày. Bà con luộc chín lòng đỏ trứng gà rồi nghiền nhỏ hòa tan với nước sạch, đậu nành ngâm trong nước ấm 24h rồi đem xay nhuyễn thành bột, rồi hòa tan với nước rải đều xung quanh ao. Mỗi ngày cho ăn 3 lần vào: 7h sáng, 11h trưa và 17h chiều, đối với bữa tối lên tăng lượng thức ăn lên gấp đôi để cá có thể dự trữ năng lượng trong ban đêm.
Nên cho cá giống ăn vào thòi điểm sáng và chiều tối
Nên cho cá giống ăn vào thời điểm sáng và chiều tối
Bắt đầu từ tuần thứ 2 trở đi, các hộ nuôi tiến hành cho cá giống ăn cám, tấm gạo và bột cá (hoặc cá tươi nhỏ) với tỷ lệ tương ứng như sau: 30% cám + 70% bột cá, mỗi lần cho ăn với liều lượng từ 300 – 500 g/10.000 cá/ngày. Thức ăn từ bột cá hay gạo tấm lên được nấu chín rồi đặt trong sàn ăn, mỗi ngày cho ăn  lần vào sáng sớm và chiều mát, mỗi lần chia đều theo tỷ lệ 50:50. Tránh cho cá ăn vào lúc tròi nắng hoặc mưa to.
Sau khi ương cá giống được 1 tháng, thành phần thức ăn của cá sẽ được đa dạng hơn gồm: cám gạo + bột cá (hoặc phế phẩm của nhà máy thủy sản như đầu cá, tôm nghiền nhỏ) theo tỷ lệ 40% cám gạo + 60% bột cá. Khẩu phần ăn từ 3 – 5 % so với trọng lượng đàn/ngày. Ngoài ra, trong ao ương cá giống còn có nguồn thức ăn tự nhiên từ các loại sinh vật phù du phát triển trong ao với hàm lượng dinh dưỡng lớn. Đây được coi là nguồn thức ăn tươi sống rất tốt cho sự phát triển của cá giống do đó trong ao ương cá luôn duy trì màu nước xanh (nguồn nước màu xanh này có thể được tạo nên bằng cách gây màu nước hoặc do nguồn thức ăn dư thừa trong quá trình cho cá ăn).
Chăm sóc, quản lý ao ương cá giống
Cần đảm bảo đủ số lượng và chất lượng nguồn thức ăn trong quá trình ương cá bột lên cá giống, nếu thiếu thức ăn cá sẽ không phát triển đồng đều và những con cá lớn hơn sẽ ăn các con cá nhỏ, làm hao hụt tỷ lệ cá giống cho sản xuất. Trong quá trình ương giống nên hạn chế thay nước nhiều lần nếu như nguồn nước không bị ô nhiễm, bởi vì kích thước của cá bột nhỏ dễ bị lọt ra ngoài từ ống thoát nước, mặt khác nguồn thức ăn tự nhiên cho cá sẽ không được đảm bảo. Tuy nhiên để kích thích hoạt động bắt mồi của cá, cũng như thay đổi điều kiện sinh thái của môi trương nuôi bà con nên thay nước định kỳ 10 – 15 ngày/lần, mỗi lần thay 1/3 lượng nước có trong ao ương.
Đối với ao ương cá giống, trên bề mặt nước có thể thả bèo hoặc rau muống với tỷ lệ bằng 1/20 diện tích nhằm hấp thu một phần chất dinh dưỡng tránh ô nhiễm môi trường và hạn chế sự phát triển quá mức của tảo. Bên cạnh đó, cần giữ gìn vệ sinh trong không gian ương giống, theo dõi tình hình hoạt động của cá giống để có biện pháp phòng ngừa dịch bệnh và dịch hại sát cá ương. Dọn sạch cây cỏ xung quanh bờ ao, kiểm tra hệ thống cổng cấp thoát nước có rò rỉ hay không để tránh cá theo dòng chảy ra ngoài làm hao hụt sản lượng vụ nuôi. Sau khi cá giống đạt 60 ngày tuổi đạt chiều dài 3 – 5 cm và có trọng lượng 1 – 2 g/con, cho tỷ sống đạt 15 – 30%.
Mô hình sinh sản nhân tạo cá rô phi
Cá rô đơn tính dòng đường nghiệp được coi là thương phẩm của người dân tỉnh Hòa Bình. Tại khu vực này, có nhiều cơ sở nhân giống giống cá này cung cấp sống lượng cá giống lớn cho các tỉnh lân cận. Việc sinh sản nhân tạo cá rô phi đơn tính đòi hỏi phải có kỹ thuật khoa học từ khâu chọn lọc cá bố mẹ đến chăm sóc và quản lý.
Kỹ thuật tạo cá rô phi đơn tính từ lai tạo
Kỹ thuật sinh sản cá rô phi đơn tính từ lai tạo
Chọn cá giống bố mẹ để nhân tạo
Vào đầu mùa mưa, khi cá đã thành thục trong vấn đề sinh dục, sẵn sàng đẻ trứng thì tiến hành cho cá nhân giống để tạo nguồn cá giống phục vụ cho nuôi trồng thủy sản. Qúa trình chọn cá bố mẹ cho sinh sản cần tiến hành một cách khoa học: cá giống phải thật khỏe mạnh, không xay xát; tỉ lệ đực cái xấp xỉ 1:2 (1 đực : 2 cái). Cá giống cái bụng phải to mềm, lỗ hậu môn lồi, màu hồng. Con đực khi vuốt nhẹ có tinh màu trắng sữa chảy ra.
Cá rô phi giống được nuôi trong lồng lưới plastic có kích thước 2 x 2.5 x 2 m, trọng lượng cá giống dao động từ 7 – 0 con/kg, thả với mật độ là 5 kg/m3. Trong quá trình nuôi, thức ăn chế biến có hàm lượng protein dao động từ 30 – 32 % được dùng để cho cá ăn với liều lượng tù 1,5 – 2 % trọng lượng cơ thể/ngày.
Nuôi vỗ thành thục cá giống bố mẹ
Kích thích sinh sản của cá rô phi
Không gian cho cá rô phi sinh sản có thể làm bằng bể xi măng, bể composite hoặc thau nhựa,.. Tiến hành rửa sạch dụng cụ cho đẻ, lấy nước sạch với chiều sâu 20 – 40 cm. Các loại hormon sử dụng để kích thích cá rô phi sinh sản như HCG, LH-Rha và não thùy thể cá chép với các mức liều lượng khác nhau. Bằng phương pháp tiêm một liều quyết định duy nhất để kích thích cá cái sinh sản, riêng cá đực liều sử dụng chỉ bằng 1/3 đến ½ liều sử dụng cho cá cái, tỷ lệ cá đực cái sinh sản là 1:1.
Bể ấp trứng dùng bể composite hoặc bể xi măng, tiến hành rửa sạch bể, lấy nước vào với chiều sâu khoảng 40 – 60 cm. Trong thời gian ấp trứng phải điều chỉnh sục khí để trứng cá không gom lại 1 chỗ và định kỳ thay nước 1 lần/ngày. Sau khi cá nở từ 2 – 3 ngày, chuyển cá xuống ao để ương thành cá giống.
Casachsongda.com

Phương pháp ương cá bột thành cá giống hiệu quả tối ưu

Hiện nay, ương nuôi cá bột thành cá giống đang được nhiều hộ gia đình nuôi cá nước ngọt thực hiện. Tuy nhiên, không phải cứ ương nuôi thì sẽ đạt được kết quả cao. Vì vậy, để có đàn giống tốt phục vụ cho nuôi thương phẩm, người nuôi cần đặc biệt chú trọng đến khâu ương nuôi từ giai đoạn cá bột cho tới cá giống.
Chuẩn bị ao ương cá giống
Ao thả cá ương cần phải tẩy dọn sạch sẽ, phải sên vét bùn đáy ao, không nên để lớp bùn đáy quá dày. Tiếp đó, sửa dọn bờ chắc chắn, lấp các lỗ mọi và hang hốc quanh ao. Rào lưới xung quanh ao để ngăn ngừa dịch hại của cá lọt vào ao ương. Bên cạnh đó, người nuôi cần bón vôi khắp ao, liều lượng 10 - 15 kg/100m2, để khử trùng, diệt một số vi khuẩn gây bệnh cho cá và cải tạo nền đáy. Ngoài ra, nếu có điều kiện nên đào các rãnh xung quanh ao và bón vôi trên bờ ao để tránh phèn hay chất bẩn bị rửa trôi xuống ao khi trời mưa gió. Sau khi bón vôi thì phơi đáy ao 3 - 5 ngày (vùng phèn không nên phơi đáy ao) để khử trùng.
Ao ương dựa vào diện tích có sẵn của từng người nuôi, nhưng tốt nhất từ 500 - 1.000m2, đảm bảo hiệu quả ương nuôi tốt nhất. Ao sâu 1 - 1,5m, vét cho đáy phẳng hơi nghiêng về phía cống để thuận lợi cho việc thay nước trong ao. Ao phải ở vị trí thuận lợi, chủ động cấp thoát nước khi cần, mặt ao thoáng và bờ ao chắc chắn không có cây rậm.

ca-giong-1
Chuẩn bị ao ương cá giống
Với các ao không có điều kiện tháo cạn nước hoặc muốn diệt hết cá tạp, cá dữ còn trong lớp bùn đáy, người nuôi có thể dùng rễ dây thuốc cá ngâm một đêm cho mềm ra. Sau đó, đập kỹ vắt lấy nước rồi pha loãng tạt đều khắp ao (1kg rễ cho 100m3 nước). Cần lưu ý, nên thuốc cá vào buổi trưa, vì lúc này nước đã được nung nóng bởi ánh nắng mặt trời, cá dễ bị nhiễm độc hơn. Ngoài ra, có thể dùng chế phẩm dạng bột có chứa Rotenon được đóng gói sẵn để diệt cá tạp. Liều lượng dùng theo chỉ dẫn trên bao bì.
Lấy nước vào ao ương: Nước lấy vào ao ương phải được lọc thật kỹ qua lưới mịn hoặc  có thể thêm trấu vào túi lưới để không cho cá tạp, cá dữ và các sinh vật gây hại khác vào ao ương ăn hại cá và cạnh tranh thức ăn của cá. Sau khi lấy nước xong cần kiểm tra pH nước, độ PH khoảng 6,5 - 8,5 là có thể thả cá.
Cách thả cá bột
Cá bột cần được thả vào ao ương trong vòng 24 giờ sau khi lấy nước vào, để cho những dịch hại của cá bột (giáp xác chân chèo, nòng nọc, bọ gạo, bắp cày…) không kịp phát triển. Sau đó, những thức ăn dư thừa của cá bột (bột đậu, cám…) sẽ cung cấp thêm dinh dưỡng giúp tảo phát triển và gây màu cho ao. Nhưng nếu sau khi lấy nước vào hơn 2 ngày vẫn chưa thả cá bột thì người nuôi nên tháo cạn nước và cải tạo lại ao từ đầu. Cuối cùng, thả cá bột xuống ao với mật độ khoảng 300 - 500 con/m2. Lưu ý, thả cá lúc sáng sớm hoặc chiều mát để tránh trường hợp cá chết.
Trước khi thả cá bột, nên ngâm túi cá trong nước khoảng 10 - 15 phút để tránh cá bị sốc nhiệt với môi trường nước mới, sau đó từ từ thả ra ngoài ao. Nếu đựng cá bột  trong bao nilon: Thả bao nilon cá xuống ao 10 - 15 phút cho cân bằng nhiệt độ bên trong và bên ngoài, sau đó mở miệng bao để cho cá ra từ từ. Trường hợp cá bột chứa trong dụng cụ hở (thau, thùng), cần thêm từ từ nước ngoài ao vào dụng cụ chứa cá vài lần cho cá quen với nước ao mới, sau 10 - 15 phút chuyển thùng xuống ao, từ từ nghiêng thùng cho cá ra ngoài.
ca-giong-1
Thả cá bột vào ao ương
Thức ăn cho cá ương
Trong 10 ngày đầu: cho cá bột ăn lòng đỏ trứng và bột đậu nành. Khẩu phần ăn cho 100.000 cá bột/ngày gồm: 5 lòng đỏ trứng + 600g bột đậu nành. Cách cho ăn: Lòng đỏ trứng luộc chín, bóp nhuyễn, hòa tan trong nước cùng bột đậu nành. Sau đó tạt đều thức ăn khắp ao và mỗi ngày cho ăn 3 lần: 7 giờ , 11 giờ, 17 giờ.
Từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 20: bắt đầu cho cá ăn bột cá, cám và bột đậu nành. Khẩu phần cho 100.000 cá/ngày gồm: 300g đậu nành + 300g cám + 300g bột cá.  Cách cho ăn: Trộn đều 3 loại thức ăn trên sau đó rải đều trên mặt ao. Ngày cho ăn 3 lần.
Từ ngày thứ 21 trở đi giảm lượng bột đậu nành, chỉ cho ăn bột cá và cám, trộn cám cùng bột cá với tỷ lệ bằng nhau rồi cho cá ăn ngày 2 - 3 lần. Lưu ý, lượng thức ăn chiếm khoảng 15 - 20% trọng lượng cá nuôi. Cho ăn như vậy đến khi cá đạt kích cỡ giống khoảng 300 - 500 con/kg.
Lưu ý: Thức ăn nên trộn thêm Vitamin C liều lượng 30 - 40 mg/kg thức ăn. Sau khoảng 15 - 20 ngày, có thể cho cá ăn bằng thức ăn viên công nghiệp loại viên nhỏ mảnh có hàm lượng đạm trên 30%.
Bổ sung thức ăn bột cho cá ương
Chăm sóc quản lý ao ương
Trong quá trình ương hạn chế thay nước, nhưng nếu thấy nước ao bẩn hoặc có điều kiện thì nên thay 30% nước để kích thích hoạt động bắt mồi của cá. Mỗi ngày trước khi cho cá ăn phải vệ sinh sàng ăn và kiểm tra lượng thức ăn còn lại để tăng giảm hợp lý, tránh tình trạng dư thừa làm thối nước hoặc thiếu thức ăn cá sẽ tranh giành lẫn nhau. Đảm bảo đủ số lượng và chất lượng thức ăn giúp cá mau lớn, đạt tỷ lệ sống cao.
Thu hoạch cá giống
Sau khi ương 45 - 60 ngày, cá đạt kích cỡ 300 - 700 con/kg, lúc này tùy loại cá mà người nuôi có thể thu hoạch. Trước khi thu hoạch 1 tuần, hằng ngày phải luyện cá bằng cách giảm bớt lượng thức ăn (chỉ còn 1/3 - 1/2 so với bình thường) hay thỉnh thoảng cho cá nhịn đói và làm đục nước ao. Dùng lưới có kích thước mắt lưới nhỏ kéo cá để tránh cá bị xây xát, kéo lưới dồn cá lại một góc ao khoảng từ 10 - 15 phút, lúc 9 - 10 giờ sáng, làm liên tục 2 - 4 ngày và nhốt trong vèo trước khi xuất bán. Trong quá trình thu hoạch cá giống, các thao tác phải thật nhanh và nhẹ nhàng để tránh làm cá mệt và nhằm hạn chế tỷ lệ hao hụt khi vận chuyển.
Để hạn chế chi phí con giống, người nuôi có thể tự ương với phương pháp ương cá bột thành cá giống trên đây. Tuy nhiên, nếu muốn đảm bảo con giống khỏe mạnh, không mầm bệnh và mang lại hiệu quả kinh tế cao bà con nên tìm những địa chỉ cung cấp uy tín. Một trong những nơi uy tín hiện nay - Trung tâm Thủy sản Minh Phú sẽ giúp bà con lựa chọn những con giống tốt nhất.

Cá giống chết hàng loạt vì ao ương không đạt tiêu chuẩn

“Vì sao cùng áp dụng một kỹ thuật ương nuôi cho cùng một loại cá giống lại cho mức sản lượng khác nhau?”  Đây là câu hỏi được đặt ra bởi nhiều hộ gia đình và cơ sở nuôi trồng thủy sản. Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi đã làm một khảo sát nhỏ với hơn 100 hộ gia đình lần đầu tiên nuôi thả cá giống tại tỉnh Hải Dương. Kết quả của cuộc khảo sát cho thấy, lượng cá giống chết do ao nuôi không đạt tiêu chuẩn cao hơn rất nhiều so với lượng cá giống chết do chăm sóc không đúng kỹ thuật.  
Vậy làm thế nào để cải thiện được tình trạng cá chết hàng loạt do ao ương không đạt tiêu chuẩn ? Dưới đây là bài viết chia sẻ về “Kỹ thuật chuẩn bị ao ương” rất chi tiết để giúp bà con tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm trong nghề nuôi trồng thủy sản.
Như thế nào là “Ao ương cá giống đạt tiêu chuẩn” ?
-Độ sâu ao ương: ao quá sâu sẽ khiến thức ăn tự nhiên phát triển không tập trung, khiến cá khó kiếm mồi. Ao quá nông lại khiến cá dễ bị tác động xấu bởi những biến đổi của môi trường. Theo kinh nghiệm của nhiều bà con ương nuôi cá lâu năm cho biết, độ sâu thích hợp của ao nằm trong khoảng từ 1,2 – 1,5m. Ở độ sâu này, cá có thể phát triển khỏe mạnh, đồng thời những sinh vật phù du và nguồn thức ăn tự nhiên của cá cũng dồi dào hơn.
-Diện tích ao ương: trên thực tế, không có thước đo cụ thể nào cho việc lựa chọn diện tích ao ương. Tuy nhiên, diện tích ao ương từ 500 – 2000m2 được xem là phù hợp để nuôi thả cá giống. Diện tích ao không quá nhỏ cũng không quá lớn giúp cho môi trường phát triển của cá được ấm áp về mùa đông và thoáng mát về mùa hè.
cai tap ao
Hút bùn cho ao ương nuôi cá giống
-Độ dày của lớp bùn: thông thường với những ao nuôi cá lâu năm cần được hút bùn trước khi tiến hành thả cá giống. Độ dày của lớn bùn không được cao hơn 20 cm và không được thấp dưới 10cm. Nếu lượng bùn quá ít sẽ khiến đáy ao trơ và gây ảnh hưởng đến việc tạo màu giúp nuôi trồng thức ăn tự nhiên cho cá giống. Ngược lại lớp bùn quá dày sẽ khiến ao tích đọng nhiều khí độc, gây ảnh hưởng đến môi trường sống của cá.
-Nguồn nước cấp cho ao ương: bà con nên lựa chọn nguồn nước cấp cho ao ương đảm bảo được độ PH nằm trong khoảng từ 6,5 – 8,0 và lượng oxy hòa tan dao động từ 4 – 8 mg/l. Ngoài ra, cần sử dụng nguồn nước sạch, không nhiễm hóa chất hay chất thải sinh học trong quá trình nuôi thả cá giống để đảm bảo cá phát triển khỏe mạnh, cho sản lượng tối ưu.
Kỹ thuật chuẩn bị ao ương đạt tiêu chuẩn
- Rắc vôi cho ao: Trước khi tiến hành rắc vôi, cần tát cạn ao và lớp bùn dưới đáy ao. Sau đó rải vôi quanh ao theo tỷ lệ 10kg vôi/100m2. Những ao có độ chua cao cần tăng lượng vôi bón lên 15kg/100m2. Hoạt động rải vôi cho ao giúp tiêu diệt những loài cá dữ, nòng nọc, ký sinh trùng gây hại… Ngoài ra còn có tác dụng cân bằng độ PH, đảm bảo môi trường sống cho cá giống phát triển khỏe mạnh.
cai-tao-aoRắc vôi để giảm độ chua cho ao
- Bón phân: Hoạt động bón phân nhằm bổ sung các chất dinh dưỡng, giúp những loài sinh vật nổi phát triển để làm thức ăn cho cá. Hoạt động này diễn ra sau khi bón vôi cho ao từ 2 đến 3 ngày. Tỷ lệ phân hữu cơ được sử dụng cho ao khoảng 20 – 30kg/100m2 diện tích ao. Tuy nhiên, nếu sử dụng phân xanh, cần tăng lượng phân lên 50kg/100m2. Bà con cũng nên lưu ý: với phân hữu cơ, cần được ủ cùng vôi bột trước khi bón từ 6 ngày đến 1 tuần, trọng lượng vôi chiếm 15% trọng lượng phân bón.
- Lấy nước vào ao: Nhằm giúp quá trình phân hủy phân bón diễn ra nhanh hơn, nên lấy nước vào ngập ao từ 0,3–0,4m, sau đó ngâm ao trong vòng 2 – 3 ngày. Khi phân bón đã tan hết, tiếp tục lấy thêm nước để hoàn thành giai đoạn “Chuẩn bị ao ương”. Có một lưu ý nhỏ trong khi tiến hành bước làm này là trước khi lấy nước, cần sử dụng lưới mắt nhỏ để lọc bỏ những con cá bé, cá rô phi con và các loài địch gây hại cho cá giống.
Chuẩn bị ao ương được xem là bước khởi đầu trong mô hình nuôi cá giống trong ao. Vì vậy, để vụ cá thành công, bước khởi đầu nên được tiến hành thuận lợi. Nhằm mục đích giảm tỷ lệ cá chết do công tác chuẩn bị ao nuôi không đúng kỹ thuật, bà con nhân dân cần nắm vững được quy trình trên và áp dụng vào mô hình nuôi trồng thực tế.

Phương pháp lai cá giống rô phi đơn tính toàn đực

Việc lai tạo cá giống rô phi trên thế giới hiện nay gặp nhiều khó khăn, khi tỉ lệ kích thước giữa cá rô phi đực và cái không đồng đều dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. Một trong những biện pháp khắc phục tình trạng trên là phương pháp lai tạo cá rô phi đơn tính toàn đực (chiếm 95%) bằng hormone tính đực Methyltestosteron (viết tắt: MT).
Lai tạo cá giống rô phi đơn tính toàn đực như thế nào?
Vấn đề này trên thế giới đã thực hiện thành công từ năm 1990. Đến năm 1995, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I tại Đình Bảng – Hà Bắc đã nhập công nghệ và sản xuất thành công nửa triệu cá rô phi giống đơn tính đực ở giai đoạn cá hương, đạt chỉ tiêu quy trình kỹ thuật. Từ đó, mở ra một kỷ nguyên mới cho công nghệ nuôi cá rô phi thương phẩm phát triển ở nước ta.
Nuôi vỗ cá giống bố mẹ
Cá giống bố mẹ có tuổi đời từ 1 – 2 năm, khối lượng 100 – 150g/con trở lên. Số lượng đực và cái được tuyển chọn theo tỷ lệ ½ - 1/3, cá cái có 3 lỗ ở bụng, cá đực có 2 lỗ. Trước khi nuôi cá giống, bà con dùng giai có mặt lưới cỡ 1mm đặt vào giữa lòng ao. Một giai nhốt cá đực, 2 – 3 giai nhốt cá cái. Cũng có thể nuôi vỗ cá giống bố mẹ trong các ao, hoặc bể xây cỡ nhỏ và nuôi riêng 2 cá thể đực và cái mỗi giới 1 giai. Mật độ nuôi trung bình nên duy trì từ 5 – 6 con/m2 diện tích ao. Sử dụng nguồn thức ăn tổng hợp có hàm lượng đạm 30 – 32 %, với khẩu phần 2 – 2,5 % khối lượng cá mỗi ngày. Trong quá trình nuôi cá giống, có thể bón thêm phân vô cơ để gây nguồn thức ăn tự nhiên là sinh vật phù du, với liều lượng 40g đạm + 20g lân cho 100m2 ao trong 1 tuần lễ.
Cá bột được nhân giống trong giai
Cá bột được nhân giống trong giai
Cho cá đẻ trong giai
Giai cho cá đẻ được cắm trong ao theo từng cụm 3 cái 1, với mực nước sâu 0,8m. Các hộ nuôi nên làm 12 giai chia đều thành 4 cụm cho 1 đợt sinh sản để thu được trứng thụ tinh tập trung. Giai sinh sản thường có kích cỡ 2,7m x 4,2m x 1m, cỡ mặt lưới là 1mm. Các giai cũng có thể được đặt trong bể xi măng với nguồn nước chảy nhẹ. Ở mỗi một giai, bà con chọn giới tính của cá theo tỷ lệ 6 cái + 3 đực để bắt đầu quá trình sinh sản.
Thu trứng và ấp trứng
Khi cá giống bố mẹ bắt đầu quá trình đẻ trứng, cứ 5 – 7 ngày bà con tiến hành thu trứng 1 lần từ miệng cá (vì cá rô phi ngậm trứng đã thụ tinh trong miệng và ấp ở đó). Sử dụng vợt 2 lớp lưới mỏng, lỗ nhỏ, lớp lưới có mặt dưới dày như vợt vớt cá bột, lớp trên thưa có mặt lưới  2 cm. Đáy lưới lớp dưới thấp hơn đáy trên 8 – 10 cm để khi vợt bắt cá, cá giống quẫy không làm hỏng trứng.
Trong quá trình vớt trứng, 1 người dùng 1 tay cầm vợt vớt cá, tay kia đi găng bằng vải, giữ và bóp nhẹ miệng cá để cá nhả trừng vào trong lưới, người khác dùng bát nhựa sạch đựng 1 ít nước để hứng trứng. Trứng cá giống được phân ra thành 4 nhóm: nhóm chưa rõ mắt phôi; nhóm đã rõ mắt đen; nhóm sắp mở; nhóm đã nở. Sau đó cho ấp theo các nhóm trong cùng giai đoạn. Đàn cá giống bố mẹ sau khi lấy trứng, thả về nuôi vỗ đực, cái riêng, sau 3 tuần lại cho sinh sản tiếp.
Đối với trứng cá khi được phân thành 4 nhóm như ở trên, bà con nông dân nên sử dụng hộp nhựa, tôn hoặc khay men để ấp trứng với mật độ từ 3 – 5 trứng/cm2. Bình thủy tinh hoặc nhựa trong, hình trụ thể tích 6 lít ấp 2,2 kg trứng là hợp lý. Đối với bình ấp trứng, nên có dòng nước chảy nhẹ qua ống dẫn từ trên xuống đáy bình, không cho nước phun từ đáy bình lên. Giữ nhiệt độ nước trong khoảng 27 – 30 độ C sau 4 – 5 ngày cá sẽ nở.
Chuyển giới tính cá bột thành giới tính đực
Khi cá bột đã bơi ngang được và bắt đầu biết ăn thì chuyển sang giai đoạn nuôi, cho chúng ăn bằng thức ăn có trộn hooc-mon tính đực để chuyển giới tính. Sử dụng giai ương cá bột với kích cỡ 3m x 2m x 1m, mặt lưới cỡ 1mm. Mật độ ương cá bột từ 10 – 12 con/lít. Trong tuần đầu tiên ương cá, sử dụng 0,6 kg đạm và 0,7 kg lân cho 100 m2 mặt giai. Sau đó dùng 50 microgam tính đực trong 1 kg thức ăn cho 100 m2 giai để chuyển giới tính cho cá.
Cách pha chế
Sử dụng 1g MT cho hòa tan trong 1 lít ethnol 95 độ. Sau đó dùng bột cá nhạt không bỏ muối khi chế biến hoặc thức ăn tổng hợp có 35% đạm, nghiền mịn, sàng qua mặt lưới cỡ 0,85mm. Lấy 925g thức ăn từ bột cá trộn với 14g Prelmix, 1g vitamin C (hoặc axit ascobic). Trộn lẫn dung dịch vừa hòa tan với 940ml ethanol vào thức ăn đã sàng kỹ.
Nguồn thức ăn vừa được trộn đều bà con dùng đũa quấy đều trong vòng 30 phút để cho hơi ethanol bay ra, sau đó phơi khô rồi sàng lại. Cho thêm 1,4g Tetramicin, 30ml dầu thực vật và 30g dầu gan cá vào thức ăn, trộn đều trong 10 phút rồi cho vào túi nilon cho cá ăn dần.
Chăm sóc cá giống
Cá giống khi được chuyển đổi giới tính, 5 ngày đầu mỗi ngày cho ăn lượng thức ăn bằng 25% khối lượng cá; 5 ngày tiếp theo bằng 20%; 5 ngày sau nữa bằng 15% và 4 ngày cuối cùng cho ăn bằng 10% khối lượng cá. Trung bình mỗi ngày cho cá giống ăn 4 – 5 lần, vãi đều khắp trong giai. Nên cho ăn vào lúc trời mát tránh ánh nắng trực tiếp, bữa tối nên cho cá ăn nhiều hơn ban ngày 1 chút để cá dự trữ năng lượng về đêm.
Ươm cá giống trong lồng bè
Ương cá giống trong lồng bè
Ương cá bột đã xử lý Methyltestosteron
- Ao ương: Tiến hành tẩy vôi và diệt khuẩn, trừ chua, diệt tạp khuẩn và bón lót phân cho ao ương như khi ương các loại khác.
- Mật độ: tù 150 – 160 con/m2 ao, nếu ương bằng giai, mật độ 1000 con/m2.
- Thức ăn: cho ăn cám gạo và các thức ăn tự nhiên như rau cỏ xay nhuyễn hay cá con.
- Chăm sóc: Thường xuyên vệ sinh giai để khỏi bí nước lưu thông trong và ngoài giai. Nếu uong trực tiếp vào ao phải bảo vệ, diệt các loại địch hại ăn cá bột như rắn, ếch, nhái…
Kiểm tra kết quả của việc chuyển đổi giới tính cho cá
Khi cá đã đạt kích cỡ từ 2 – 3 g/con, lấy 100 – 200 con ngẫu nhiên để xác định giới tính cá cái dưới bụng có 3 lỗ, cá đực có 2 lỗ. Nếu cá đực chiếm 95% trở lên là mô hình nhân giống đạt yêu cầu. Đến lúc cá đạt cỡ chiều dài từ 4 – 7 cm, dùng làm cá giống để thả vào các ao, đầm nuôi thành cá thịt.
Sử dụng đồng (Cu) trong nuôi trồng thủy sản nước ngọt và ao
Đồng có nhiều loại được sử dụng trong nước như đồng sunfat, có sẵn hoặc tinh thể, dạng bột thường được gọi là “đá xanh” hoặc “bột xanh”. Đồng Sunfat tan trong nước, hòa tan và khá dễ dàng khi trộn với nước. Trước khi sử dụng bất kỳ hình thức xử lý đồng nào, bạn cần đo tổng độ kiềm của nước (không độ cứng hoặc pH) vì độc tính của đồng đến cá tăng khi tổng độ kiềm giảm. Nếu tổng độ kiềm dưới 50 ppm, xử lý đồng không được khuyến khích vì có nguy cơ cao giết chết cá giống. Nếu tổng độ kiềm lớn hơn 250 ppm, không sử dụng hơn 2,5 ppm đồng sunfat. Để sử dụng đồng sunfat, đầu tiên bà con phải hòa tan trong nước. Sau khi cân số lượng đồng sunfat cần thiết để điều trị khối lượng nước, trộn nó trong nước đảm bảo rằng tất cả đều tan. Đồng sunfat nặng hơn nhiều so với nước và nếu bà con ném các tinh thể hoặc bột xuống ao, nó sẽ chìm xuống phía dưới nơi bùn ao sẽ hình thành liên kết hóa học và bao quanh nó.
Đồng có thể được sử dụng trong ao nuôi, vì chúng có thể kiểm soát được tảo trong ao nuôi, bao gồm tảo sợi và tảo lớn (như Chara). Hiện nay, trong nuôi trồng thủy sản đã có nhiều nỗ lớn trong việc sử dụng đồng nhằm giảm sự phong phú các loại tảo gây mất hương vị của cá.

Hợp chất đồng giúp diệt tảo trong ao
Hợp chất đồng giúp diệt tảo trong ao
Trong một ao có nhiều tảo, phương pháp điều trị đồng có thể gây ra nồng độ oxy giảm dẫn đến cá chết. Tảo là nguồn sản xuất oxy chính và loại bỏ nó tức là loại bỏ nguồn oxy khỏi ao. Ngoài ra, oxy sẽ được tiêu thụ khi tảo phân hủy, nếu bà con đang tiến hành diệt tảo thì hoặc xử lý một loạt các liều nhỏ hơn theo thời gian hoặc sục khí khẩn cấp. Đồng cũng là hoạt chất độc hại cho động vật không xuong sống, chẳng hạn như ốc và hầu hết các động vật phù du trong ao như bọ, trùng roi, luân trùng,.. vì vậy nếu bà con đang dựa trên các động vật phù du như một nguồn thực phẩm (túc là ao cá con) thì có thể không sử dụng đồng.
Nhìn chung, phương pháp điều trị bằng đồng rất có hiệu quả trong việc sàng lọc các loại tảo có trong ao nuôi, tuy nhiên cần thận trọng để các hoạt chất của đồng không ảnh hưởng lên cơ thể của cá giống. Nếu nước có độ kiềm thấp hoặc nếu có 1 loại tảo nở hoa nặng và không có sục khí thì phương pháp này không được khuyến khích trong nuôi trồng thủy sản.

Casachsongda.com

Quy trình nuôi cá trắm đen thương phẩm trong ao – hiệu quả kinh tế vượt trội

Nuôi cá trắm đen thương phẩm trong ao là một trong những mô hình đem lại lợi nhuận kinh tế cao cho bà con nông dân thời gian qua. Tuy nhiên, để thành công với mô hình này, bà con cần thực hiện đúng các bước trong quy trình nuôi.
1- Chọn ao nuôi cá trắm đen thương phẩm - thủy sản minh phú
Người nuôi có thể đào ao mới hoặc sử dụng ao có sẵn để nuôi cá trắm đen. Diện tích và hình dạng ao tùy thuộc vào điều kiện của từng hộ nuôi, có thể từ vài trăm m2 đến vài mẫu, nhưng tốt nhất nên chọn ao có hình chữ nhật từ 1000 – 3000m2 và độ sâu nước từ 2 – 2,5m như vậy sẽ thuận lợi cho việc chăm sóc và thu hoạch cá.
Vị trí ao nuôi
- Chọn ao gần nguồn nước sạch để thuận lợi cho việc cấp nước khi cần và gần hệ thống thoát nước để hạn chế chi phí thay nước và thuận tiện khi thu hoạch.
- Ao phải ở nơi thoáng mát, để có thể tiếp nhận được nhiều ánh sáng mặt trời giúp các sinh vật là thức ăn cho cá lúc nhỏ có thể phát triển tốt.
ca-tram-den
Vị trí ao nuôi phù hợp
Bờ ao
Đảm bảo cho bờ ao không bị rò rỉ nước và không có hang hốc. Đối với những ao mới đào tránh sạt lở bờ, độ cao của bờ ao cần cao hơn mức nước cao tối đa 0,5 – 0,6m. Trên bờ ao không nên trồng các loại cây có độ che phủ lớn vì lá cây rụng xuống ao làm ô nhiễm nước ao, gây thối đáy ao. Bên cạnh đó, những tán cây che rợp mặt ao sẽ gây cản trở ánh sáng chiếu xuống ao làm giảm độ thoáng và hạn chế sự phát triển của thức ăn tự nhiên. Phát quang các bụi cây quanh ao để không còn chỗ ẩn nấp của dịch bệnh gây hại.
Nguồn nước
Nhu cầu oxy của cá trắm đen cao hơn các loài cá khác, nếu không đủ oxy cá sẽ chậm lớn, dễ bị bệnh và chết. Vì vậy, nếu muốn đảm bảo oxy cho cá cần phải quản lý môi trường ao nuôi sạch sẽ, bề mặt ao thoáng. Tốt nhất cứ 500m2 ao nuôi thì nên bố trí một máy phun mưa để tăng sự khuếch tán của oxy từ không khí vào trong nước khi cần. Mực nước tốt nhất nên giữ khoảng 1,5 – 2m và có thể dễ dàng thay đổi khi cần thiết.
Đáy ao
Dọn vét cho đáy ao bằng phẳng và dốc về một phía công thoát nước để dễ tháo nước khi thay và hút nước khi thu hoạch. Độ dốc đáy ao từ 0,5 – 1 độ và nghiêng về cống thoát. Hàng năm, đáy ao phải được nạo vét bùn, không để bùn quá dày dễ bị thối, là nơi cư trú cho các sinh vật gây bệnh cá và sinh ra các khí độc như CH4, NH3, H2S...
2- Chuẩn bị ao nuôi
Để quy trình nuôi cá trắm đen đạt hiệu quả kinh tế cao cần phải làm tốt công tác chuẩn bị ao nuôi.
- Cá trước khi thả 7 – 10 ngày, ao phải được tháo cạn nước, dọn sạch rong, cỏ và bụi cây quanh bờ. Đối với ao mới đào phải tạo lớp bùn đáy thích hợp, tốt nhất nên giữ lại lớp bùn bề mặt. Cần nạo vét bùn đáy, độ dày bùn đáy ao tốt nhất từ 15 – 20cm, tiếp đó sửa dọn bờ ao cho chắc chắn và lấp các hang hốc quanh ao. Bón vôi tẩy trùng ao từ 7 – 10kg/100m2 để diệt cá tạp và các vi khuẩn gây bệnh cho cá. Sau khi bón cần phơi đáy ao từ 3 – 4 ngày nhằm khử trùng và thoát các khí độc ở đáy ao.
- Bón phân để gây màu cho nước ao nhằm cung cấp các chất dinh dưỡng, tạo nguồn thức ăn tự nhiên cho cá, giảm độ phèn và giúp cho độ PH trong ao ít biến động. bón phân với liều lượng như sau: phân chuồng 20 – 30kg/100m2.
- Bước cuối cùng là lấy nước vào ao: Khi lấy nước vào ao phải lọc qua lưới mắt nhỏ để tránh cá tạp, cá dữ theo vào ao nuôi. Đặc biệt, hiện nay các nguồn thức ăn tự nhiên thường có cá rô phi con đẻ ngoài tự nhiên, dễ theo nước vào ao nếu chúng ta không dùng lưới lọc khi lấy nước. khi này cá rô phi sẽ cạnh tranh thức ăn cao đạm, đắt tiền khi nuôi cá trắm đen.
ca-tram-den
Chuẩn bị ao nuôi
3- Chuẩn bị cá giống, thả và chăm sóc cá sau khi thả
Chuẩn bị cá giống và mật độ cá thả
Chọn những con cá giống khỏe mạnh, không xây xát, không bệnh tật, không dị hình và kích cỡ đồng đều. Người nuôi có thể thả giống bé cỡ 30 – 50g/con hoặc giống lớn có kích cỡ 200 – 300g/con.
Với ao nuôi cá trắm đen thương phẩm có thể nuôi đơn hoặc nuôi ghép, nếu nuôi ghép cần lưu ý đối tượng ghép, tránh cạnh tranh thức ăn với cá trắm đen. Hoặc có thể nuôi ghép những loài có giá trị kinh tế cao hoặc những loài có khả năng làm sạch môi trường ao nuôi. Các đối tượng nuôi ghép có thể là cá mè, cá chép, cá rô đồng...tỷ lệ ghép thường là 80% cá trắm đen với 20% các đối tượng ghép khác, riêng cá rô đồng nên nuôi ghép mật độ cao khi mới thả và chỉ nên thả vào vụ xuân hè.

Đối với những con giống có cỡ 30 – 50g/con thả với mật độ 2 con/m2, với giống cỡ lớn 200 – 300g/con thì thả với mật độ 1 con/m2. Khi cá lớn tùy thuộc vào điều kiện nguồn nước, khả năng canh tác có thể giãn bớt mật độ nuôi.
Cá trước khi thả vào ao cần được tắm nước muối loãng, nồng độ 2% (2kg muối/100 lít nước) hoặc kháng sinh 30ppm trong 10 phút trước khi thả cá. Lưu ý, cần thả cá vào sáng sớm hoặc chiều tối, trước khi thả cần cân bằng nhiệt giữa bao cá và môi trường nuôi để tránh cá bị sốc.
Thức ăn và các chăm sóc cá
Thức ăn thường sử dụng cho cá trắm đen là thức ăn viên nổi có kích cỡ 1 – 10nm/viên, tùy theo kích cỡ miệng cá, thức ăn có hàm lượng đạm cao 40% protein và 10% lipid đối với giai đoạn cá giống. Đối với cá thương phẩm hàm lượng đạm là 35% protein và 7% lipid.
Cho cá ăn hàng ngày với tỷ lệ cho ăn dựa theo % khối lượng cơ thể, có điều chỉnh theo thời tiết, tình trạng sức khỏe của cá và tình trạng môi trường ao nuôi. Khi cá lớn >500g/con có thể cho ăn thêm ốc vặn.
Duy trì đảm bảo mức nước ao nuôi sâu từ 1,5-2m, khi cá lớn >2kg cần duy trì mức nước sâu >2m. Ngoài ra, hàng tuần có bơm thêm nước mới để kích thích sinh trưởng và thay nước bẩn nếu thấy cần thiết. Theo dõi, kiểm tra môi trường nước hàng ngày để kịp thời xử lý nếu có dấu hiệu bất thường xảy ra.
Định kỳ kiểm tra tốc độ sinh trưởng của cá bằng cách kiểm tra ngẫu nhiên 30 con, tính khối lượng cá trung bình hàng tháng để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp. Khi chuyển mùa, cá trắm đen hay bị bệnh ta nên cho ăn thêm thuốc phòng bệnh.
ca-tram-den
Cho cá ăn
Một số bệnh thường gặp và cách khắc phục
Cá trắm đen khi nuôi thương phẩm thường mắc một số bệnh như:
Viêm ruột xuất huyết: Do ăn phải thức ăn kém phẩm chất sau nhiễm khuẩn gây viêm và xuất huyết ruột. Khi phát hiện bệnh cần dừng ngay thức ăn và kiểm tra thức ăn, tránh cho ăn thức ăn thừa và tránh thức ăn nhiễm nấm mốc, thức ăn có chất lượng kém. Nếu cá bị bệnh này cần dùng kháng sinh Enrofloxacine trộn thức ăn cho cá ăn 5 ngày liên tục với liều 30-50mg/kg cá/ngày.
Bệnh đốm đỏ: Khi bị bệnh giảm ăn, dừng ăn, trên thân có biểu hiện tuột vảy, xuất huyết gốc vây, xuất huyết lỗ hậu môn, cơ thể cá chuyển màu tối, cá bơi lờ đờ quanh bờ. Nguyên nhân do đánh bắt, vận chuyển để cá bị xây sát trong môi trường nước bẩn khi đó vi khuẩn gây bệnh xâm nhậm và sinh bệnh, có thể xử lý bệnh như bệnh viêm ruột xuất huyết.
Bệnh ngạt do thiếu khí: Cá trắm đen rất nhạy cảm với thay đổi thời tiết, mỗi khi thay đổi thời tiết thường giảm ăn sau bỏ ăn, thiếu khí và khí độc nhiều gây chết ngạt cho cá nuôi. Vì vậy, trong quá trình nuôi cần xử lý môi trường ao nuôi bằng các chế phẩm sinh học thường xuyên và kịp thời cung cấp ô xy và nước sạch khi cần thiết.
4- Thu hoạch cá
Cá trắm đen khi thu hoạch cần đánh bắt nhẹ nhàng, nhanh và tránh gây xây sát sẽ giảm giá trị và đặc biệt lưu ý số cá chưa đạt kích cỡ còn lại trong ao nuôi tiếp. Cá thương phẩm cần được vận chuyển bằng nước sạch, mát và cung cấp đủ lượng ô xy hòa tan.
Cá nuôi từ 8 tháng đến 1 năm cá đạt kích cỡ từ 2,5-3,5kg/con thì tiến hành thu tỉa để giảm mật độ. Khi thu hoạch cá trắm đen nên thu hoạch vào các thời điểm: ngày nghỉ (30/4-1/5; 2/9), ngày lễ hội, tết cổ truyền. đây là thời điểm lượng khách tiêu thụ tăng đột biến nên bán cá thương phẩm sẽ được giá hơn. 2 – 3 ngày trước khi thu hoạch giảm ăn cho cá rồi dừng ăn để tránh gây sốc cho cá trong khi thu hoạch, vận chuyển và lưu giữ cá.