Thứ Tư, 8 tháng 3, 2017

Thu tiền tỷ từ mô hình ươm nuôi cá giống lăng chấm thương phẩm

Hơn 1 tỷ đồng là số tiền lãi hằng năm của anh Nguyễn Văn Vân ở tỉnh Hòa Bình nhờ mô hình ươm nuôi cá giống lăng chấm thương phẩm. Với hơn 30 hệ thống lồng bè được đặt tại lòng hồ thủy điện, mô hình chăn nuôi của anh đã cho ra đời hàng nghìn con cá giống chất lượng hảo hạng, cung cấp nguồn giống cho địa bàn toàn tỉnh và một số vùng lân cận.
Mô hình ươm nuôi cá giống lăng chấm thương phẩm
Anh Vân đã ấp ủ ước mơ làm giàu từ lâu, từ một người nông dân gắn với trồng cây ăn quả anh đã mạnh dạn chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản. Diện tích trồng lúa và hoa màu đã được anh đầu tư sang chăn nuôi cá lăng chấm thương phẩm. “Vạn sự khởi đầu nan” năm đầu tiên mô hình chăn nuôi của anh lỗ gần 100 triệu, nhưng tất cả không làm nhụt ý chí của anh, anh đã tự tìm tòi học hỏi kỹ thuật nuôi, rút kinh nghiệm từ lần thất bại ban đầu.
Cá lăng chấm được mùa thu về hàng tỷ đồng
Cá lăng chấm được mùa thu về hàng tỷ đồng
Năm 2011, anh đã tiến hành thả hơn 4.000 con giống vào 4 hệ thống lồng bè được đặt ở giữa lòng hồ thủy điện, nơi có nguồn nước chảy chậm, lưu lượng nước dồi dào thích hợp cho việc ươm giống và nuôi cá lăng chấm chất lượng cao. Mô hình đầu tiên của anh đã thu được 5 tấn cá, trong đó có con nặng tới 5 kg, thu về hàng tỷ đồng. Trong thời gian 5 năm nuôi cá lăng chấm, trù tất cả chi phí anh Vân thu về gần 5 tỷ đồng, hệ thống lồng bè đã lên tới 30 lồng. Theo anh, việc nuôi cá lăng chấm không có gì là khó, về kỹ thuật nuôi khá đơn giản. Diện tích ao nuôi có thể dao động từ 500 – 1.000 m2, bờ ao phải được kiên cố cao ráo để tránh ngập lụt. Trước khi thả cá, cần tiến hành cải tạo ao, vét bùn đáy ao, sau đó rắc vôi xung quanh bờ ao để khử trùng và vi khuẩn gây bệnh. Vôi bột CaCO3 được hòa tan với nước để hạ phèn và diệt khuẩn, khoảng 7 – 10 kg/1.000 m2 là phù hợp. Sau khi cải tạo xong, để ao phơi trong vòng 5 – 7 ngày rồi tiến hành cấp nước vào ao với độ sâu từ 1,5 – 2m.
Về cá giống được chọn lựa nên duy trì đồng đều từ 8 – 15 con/kg, mật độ thả cá khoảng 10 – 15 con/m2 là tốt nhất, trong thời gian nuôi thường xuyên thay nước cho cá 1 tháng 2 lần để đảm bảo nguồn nước luôn sạch và tránh mầm bệnh phát triển. Sau mỗi vụ thu hoạch Anh Vân luôn chọn ra những cá thể bố mẹ tốt nhất làm cá giống cho mùa sinh sản sau, tránh việc phải đi nhập nguồn giống không rõ nguồn gốc xuất xứ. Hiện tại, Trung tâm nuôi trồng của anh đã có 30 hệ thống lồng bè được đặt ở lòng hồ, xây dựng theo mô hình tiêu chuẩn VietGAP với nguồn nước sạch từ lưu lượng sông Đà dồi dào. Không những chủ động được con giống trong nuôi trồng thủy sản, số cá giống của anh còn được nhiều trang trại nuôi trên địa bàn tỉnh hướng tới, nhập về với số lượng lớn, đảm bảo cho ra đời những con cá thương phẩm chất lượng cao, tạo độ uy tín cho thương hiệu “Cá sạch sông Đà” được vươn xa hơn nữa trên thị trường quốc tế.
Kỹ thuật ương nuôi cá lăng chấm
1/ Điều kiện ao nuôi
Tùy thuộc vào quy mô sản xuất của từng hộ gia đình, hay điều kiện sẵn có mà diện tích ao nuôi được cải tạo theo ý muốn. Có thể tận dụng các kênh mương có sẵn trong tự nhiên để ương cá, sau đó đưa cá giống vào ao nuôi hoặc lồng bè để nuôi thương phẩm. Tuy nhiên, không nên sử dụng những kênh mương quá dài để tiện cho việc chăm sóc, quản lý. Trong trường hợp kênh mương dài, nên ngắt thành tùng đoạn nhỏ để phân vùng quy hoạch cho từng đối tượng nuôi được dễ dàng hơn.
Dựa vào đặc điểm tự nhiên của vùng, các ngư dân đã dẫn nguồn nước tù hệ thống sông Đà vào ao nuôi để đảm bảo nguồn nước dồi dào. Trong đó hình thức nuôi lồng bè đang được xây dựng ở các khu vực có dòng chảy chậm, nước trong và sâu thuận lợi cho việc nhân giống và nuôi cá thịt. Nếu so sánh giữa nuôi trong ao với lồng thì nuôi trong lồng cho năng suất cao hơn và thu hoạch nhanh hơn, kiểm soát nguồn thức ăn và dịch bệnh được dễ dàng. Đối với nguồn nước được cấp vào ao nuôi, không được đục và nhiễm phèn, độ pH tốt nhất từ 6,5 – 7,5, không nên sử dụng ao có độ pH <6. Cần kiểm dịch nguồn nước từ thượng nguồn xem có bị nhiễm độc từ rác thải hay hóa chất (thuốc trừ sâu,..) tránh ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cá.
Với phạm vi của hộ gia đình nhỏ lẻ, không có điều kiện trong việc đấu thầu thì có thể tận dụng ao nhà để nuôi cá lăng chấm. Những ao nhỏ có diện tích vài trăm m2 có thể dùng để nuôi cá giống sau đó xuất bán cho các trại nuôi, như vậy cũng tạo nguồn thu lớn cho các hộ gia đình. Điều quan trọng không chỉ ở diện tích vùng nuôi mà là độ sâu của ao nuôi, lên duy trì từ 0,8 – 1m đối với cá giống và 1,5 – 2m đối với cá thịt. Ao sau khi được tát cạn, không được để quá nhiều bùn, duy trì ở mức 20 – 25cm để tránh trường hợp cá bị sặc bùn chết. Chất đáy dưới ao phải là cát pha hoặc ao bùn để cá dễ úi và thở khi ở dưới đáy ao. Trong trường hợp dùng ao có bùn đáy quá dầy thì trước khi thả cá giống cần được tát cạn, sên vét bớt lớp bùn để tạo độ thông thoáng cho đáy ao.
2/ Chuẩn bị ao khi thả cá giống
Ao nuôi sau khi được tát cạn cần dọn vệ sinh sạch sẽ, loại bỏ cỏ, bèo và rác xung quanh bờ, sau đó tiến hành bón vôi bột với hàm lượng từ 7 – 10 kg/100 m2 ao. Tu sửa 4 bờ xung quanh, chống rò rỉ, chống mất nước và kiên cố bờ ao để tránh ngập úng khi mưa lũ.
Việc chuẩn bị ao nên tiến hành khi thời tiết nắng ráo (tròi nắng thì càng tốt), phơi đáy ao từ 5 – 7 ngày để ao khô và thoáng, tuy nhiên đối với những ao nuôi bị nhiễm phèn thì không nên phơi lâu khi thời tiết đang nắng gây phản ứng ngược tạo độ axit cao trong đất.
Tiến hành bón phân xung quanh ao từ 15 – 20 kg/100 m2 ao để tạo độ dinh dưỡng khi nuôi cá. Nguồn phân có thể lấy từ phân động vật như gà, lợn hoạc phân xanh (cá loại lá, rau, cỏ, trong đó lá điên điển được coi là thực vật có nguồn dinh dưỡng cao phù hợp cho việc nuôi cá lăng chấm).
Sau khi bón phân với liều lượng vừa đủ, bà con tiến hành cấp nước vào trong ao. Nước được dẫn từ thượng nguồn đổ về lên được lọc qua lớp lưới mỏng để tránh bụi bẩn và sinh vật tạp nham vào trog ao, tránh gây mầm bệnh cho cá. Độ sâu của ao nên được duy trì từ 1,5 – 2m để tạo nhiều không gian cho cá di chuyển và giữ ấm cho cá khi thời tiết chuyển lạnh.
Việc nuôi cá trong ao không thể tránh được các mầm bệnh xâm hại, bởi môi trường nước có độ ẩm cao dễ phát sinh mầm bệnh. Có nhiều loại dịch đối với cá nước ngọt nói chung và cá lăng chấm nói riêng như trứng ếch nhái và bọ gạo. Để diệt trừ được trứng ếch nhái cần rào lưới xung quanh bờ ao; hay diệt trù bọ gạo bằng cách dùng  lít dầu lửa / 100 m2 ao rải xuống đầu ao, phía đầu gió cho lan tràn khắp ao. Sau khi thả dầu lửa xuống khoảng 1 – 2 ngày có thể tiến hành thả cá giống.
3/ Thả cá giống xuống ao
Ở tỉnh Hòa Bình, cá được nhân giống ở ao hoặc lồng bè. Khi cho cá bố và cá mẹ phối giống với nhau và sinh sản ra được cá con, dùng lưới vớt cá bố mẹ sang ao nuôi rồi giữ cá giống con ở lại tiến hành nuôi trực tiếp ở đó. Trong trường hợp các hộ nuôi trồng khác mua cá giống, thì nên thả cá vào buổi sáng từ 7 – 8h, tránh trời nắng hoặc mưa to. Đối với cá lăng chấm thương phẩm, mật độ thả nên duy trì 10 – 15 con/m2 là thích hợp, vì đây là cá ăn tạp, lớn nhanh, trọng lượng lớn.
Cho cá ăn vào buổi sáng và chiều tối là thích hợp nhất
Cho cá ăn vào buổi sáng và chiều tối là thích hợp nhất
4/ Chăm sóc cá giống
Sau khi bón lót phân lân lúc ao còn cạn nước, sau 1 tuần lấy nước vào ao, cần bón thềm 1 lần phân lân nữa với liều lượng bằng ½ lần đầu. Cá giống khi được thả xuống ao cần tiến hành cho ăn ngay để cá có đủ sức khỏe thích nghi với môi trường mới. Trong tuần đầu khi thả cá, bà con chú ý nên cho cá ăn mỗi ngày 2 lần vào sáng sớm và chiều tối, thức ăn cần được nghiền nhỏ như rau xanh, cỏ hay cám gạo, pha lẫn với nước và tạt đều khắp ao. Trong tuần thứ 2 trở đi, tùy theo kích thước của cá tăng trưởng như thế nào, bà con có thể điều chỉnh lượng thức ăn tăng lên. Lưu ý, cá lăng chấm ăn tạp nên cần bổ sung thức ăn buổi tối gấp đôi ban ngày cho cá để cá có đủ năng lượng cho ngày mai. 1 tháng tiến hành gây tạo màu nước 1 lần để đảm bảo đủ nguồn thức ăn tự nhiên trong ao cho cá.
Thường xuyên theo dõi hoạt động của cá như hoạt động bơi lội, hình dạng da, vây, có nốt đốm hay không, hay cá có ngoi lên thở nhiều lần không để kịp thời khắc phục hậu quả. Sau khi cá giống được nuôi 1 – 2 tháng, tiến hành sang thưa sang ao khác để giảm mật độ trong ao. Thông thường tù một ao ban đầu cần thêm 1 ao nữa để đưa cá hương qua nuôi, có như vậy thì cá mới tiếp tục sinh trưởng tốt.
5/ Luyện cá trước khi xuất ao
Trước khi thu hoạch cá nuôi, cần luyện tập cho cá chịu được tác động mạnh bằng cách hằng ngày lội xuống ao xua đuổi cá, mỗi tuần 1 lần. Khi cá ương được 60 ngày tuổi mới được thu hoạch, nếu thu sớm dễ xay xát sẽ hao hụt nhiều khi vận chuyển. Cá khi vớt ra khỏi ai cần cho vào bể đựng nước chứa oxy để cá luôn giữ được độ tươi, sống đến tay khách hàng.
Xây dựng mô hình trang trại khép kín đối với cá lăng chấm
Mô hình trang trại khép kín thực sự là mô hình nuôi trồng thích hợp với các ngư dân hiện nay. Uư điểm của mô hình này là giúp cá nuôi tránh được các mầm bệnh từ bên ngoài, đồng thời tiết kiệm được chi phí, bảo vệ môi trường được tốt hơn.
Mô hình trang trại khép kín VAC-R
Mô hình trang trại khép kín VAC-R
Một trong những mô hình kinh tế được ưu tiên hiện nay đó là mô hình trang trại. Đối với các trang trại nuôi cá nước ngọt nói chung hay cá lăng chấm nói riêng, việc xây dựng mô hình khép kín kết hợp với chăn nuôi đã giúp nhiều gia đình vươn lên làm giàu. Đồng thời những mo hình này góp phần làm giảm thiểu tối đa những vấn đề về việc ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi và bảo vệ sức khỏe của những người xung quanh.
Hiện nay, cơ cấu sản xuất của nước ta tiếp tục chuyển đổi nhanh theo hướng xây dựng mô hình trang trại, đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển nông ngiệp – nông thôn. Rất nhiều địa phương của nước ta như Hòa Bình, Hải Dương, Huưng Yên đang áp dụng thành công những mô hình trang trại này và trở thành thế mạnh vượt trội trong ngành nông lâm thủy sản. Việc phát triển mô hình kinh tế trang trại theo hướng VAC – R là một hướng đi đúng, cần được đầu tư và khuyến khích nhiều hơn nữa. Điểm lọi của mô hình trang trại khép kín là người nuôi có thể tận dụng triệt để nguồn nước, nguồn thức ăn, các loại chất thải để đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Casachsongda.com

Thu 20 tỷ mỗi năm nhờ nuôi cá chép giòn

“Việc lựa chọn về quê ương nuôi cá chép giòn vừa là thách thức, vừa là niềm đam mê của tôi. Để theo đuổi nó, tôi đã từ bỏ vị trí trưởng phòng kinh doanh với mức lương khởi điểm hơn 10 triệu đồng/tháng”. Anh Nguyễn Thế Phước (1989 – Hải Dương), chàng trai được mệnh danh “Tỷ phú cá chép giòn” chia sẻ.
Khởi đầu khó khăn với nghề nuôi cá chép giòn
ca-chep-gion"Tỷ phú cá chép giòn" - anh Nguyễn Thế Phước
Với suy nghĩ “không phải đi xa, mình có thể lập nghiệp trên chính quê hương”, anh Phước quyết định rời thành phố để thực hiện đam mê của mình. Tuy nhiên, do còn ít kinh nghiệm nên bước khởi đầu của anh gặp nhiều khó khăn. Thậm chí, anh từng mất không cả trăm triệu đồng vì vận chuyển sai cách khiến cá giống mua về gần như chết hết. Được biết, đó là khoảng thời gian rất phiền não nhất đối với anh. 
Nhưng không nản chí, bằng niềm đam mê kinh doanh mãnh liệt cùng sự ủng hộ nhiệt tình của cha mà anh đã tiếp tục học hỏi, phát triển ngành nghề này.  Cho đến nay, anh Phước đã sở hữu cả trăm lồng cá trên lòng sông Kinh Thầy. Với giá bán của cá chép giòn trên thị trường dao động từ 130,000 – 145,000đ/kg, mỗi vụ cá anh thu về cả 6, 7 tỷ đồng.
Học hỏi bí kíp ương nuôi của “Tỷ phú cá chép giòn” - thủy sản minh phú
Ngay khi được hỏi về kỹ thuật ương nuôi để đạt được lợi nhuận cao như vậy, anh Phước không ngần ngại mà chia sẻ với chúng tôi: “Với điều kiện địa hình tại tỉnh Hải Dương, xét thấy phương pháp nuôi lồng là phù hợp nhất nên tôi quyết định áp dụng  mô hình này trong việc nuôi thả giống cá chép giòn” . Dưới đây là ghi chép chi tiết về kỹ thuật nuôi này.
1.Thiết kế lồng nuôi
Lồng nuôi có thể mua hoặc tự làm, tuy nhiên, để tiết kiệm chi phí bà con nhân dân nên mua thép về làm. Kích thước lồng nuôi nên thiết kế theo tỷ lệ: 8m×2,5m×2m và mỗi lồng nên chia làm 2 ô có diện tích tương đương. Để cho lồng nổi, cần gắn cố định phao được làm bằng thùng phi hoặc phi nhựa với khung lồng.
2.Đảm bảo nguồn nước sạch để nuôi cá
nguon-nuoc-sachNguồn nước nuôi cá phải sạch và không nhiễm độc
Nuôi cá chép giòn bằng hình thức nuôi lồng cần có nguồn nước chủ động để kịp thời bổ sung cho ao nuôi, đảm bảo mức nước trong ao luôn trong khoảng từ 1,5 – 2m. Chất nước không được nhiễm bẩn, không có chất độc, hàm lượng oxy từ 3mg/l trở nên, độ PH từ 7 – 8,5. Thường xuyên bổ sung nước cho ao nuôi có tác dụng kích thích sự phát triển của các sinh vật làm thức ăn cho cá và cải thiện môi trường nuôi giúp cá phát triển nhanh.
3.Chọn giống và thả giống
Có thể nói bước lựa chọn con giống là bước cần sự cẩn thận và tỉ mỉ nhất, vì chỉ khi chọn được cá giống khỏe mạnh thì tỷ lệ sống ở cuối vụ mới tăng cao. Nên chọn những con cá khỏe mạnh, hoạt động linh hoạt, và bơi lội nhanh nhẹn. Kích thước cá giống nên đồng đều nhau, có chiều dài từ 17 – 20cm.
Trong quá trình thả cá giống, bà con cần lưu ý đến mật độ thả cá. Nếu thả quá nhiều con trong một lồng sẽ khiến không gian sinh sản và phát triển của cá bị bó hẹp, như vậy trọng lượng trung bình của cá sẽ giảm xuống. Bà con cũng không nên thả cá với mật độ quá thưa sẽ bỏ phí diện tích nuôi trồng. Mật độ thả cá thích hợp nhất nên là 8 con/m3 lồng
4.Thức ăn cho cá
Thức ăn chủ yếu của cá chép giòn là những sinh vật phù du, tảo, rêu, cá tép dầu … Tuy nhiên, để cá lớn nhanh và khỏe mạnh, bà con nên cho cá ăn thêm thức ăn công nghiệp hoặc thức ăn được chế biến như: Cám gạo, bột ngô, bột cá, hay cá tạp băm nhuyễn. Một ngày nên cho cá ăn làm 2 bữa, bữa sáng từ 6 – 7h và bữa chiều từ 17 – 18h.
nuoi-ca-longLượng thức ăn phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của cá
Trong quá trình nuôi bà con cần theo dõi sự tăng trưởng của cá để điều chỉnh lượng thức ăn phù hợp. Trong giai đoạn đầu lượng thức ăn cần thiết cho cá chép giòn chiếm khoảng 4 – 5% khối lượng cá. Khi cá đạt kích cỡ 100g, cần giảm lượng thức ăn cho cá xuống 3 – 4%.
Trong quá trình chia sẻ, anh Phước đã nhấn mạnh rằng nguồn nước chính là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình nuôi thành công giống cá chép giòn. Theo như anh cho biết, việc nguồn nước bị ô nhiễm không những khiến tỷ lệ cá sống giảm xuống mức tối thiểu, mà còn làm cho cá bị nhiễm độc, ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng. Vì vậy bà con nhân dân cần quan tâm chú ý hơn đến việc lựa chọn nguồn nước nuôi thả cá.

Ương nuôi cá giống nước ngọt – kỹ thuật tạo nên những con giống tốt

Thời gian gần đây, ương nuôi cá giống tự phục vụ nuôi trồng đang được nhiều hộ nông dân ở hầu hết các địa phương trên cả nước thực hiện. Người nuôi nhờ những kinh nghiệm thực tiễn đã ương nuôi thành công nhiều loại giống cá khác nhau phục vụ cho nghề nuôi cá cũng như giảm chi phí. Tuy nhiên, để có đàn cá giống tốt phục vụ cho nuôi thương phẩm, bà con cần đặc biệt chú trọng đến khâu ương nuôi từ giai đoạn cá bột tới cá giống.
Chuẩn bị ao ương cá giống - thủy sản minh phú
Ao có diện tích từ 500 – 1000m2 và có dạng hình chữ nhật. Chất đáy tốt nhất là đất cát hoặc cát pha với độ dày bùn đáy không quá 15cm. Riêng với ương cá trắm cỏ thì không cần để bùn đáy vì không phải gây màu nước). Ao ương có đường cấp và thoát nước chủ động để thay đổi môi trường nước giúp cá nhanh lớn và hạn chế mầm bệnh.
Ao được bơm cạn, vét bùn đáy rồi dùng vôi bột hoặc vôi nung với liều lượng 7 – 10kg/100m2. Sau đó, gia cố bờ ao chắc chắn để tránh rò rỉ, lấy nước vào ao qua lưới lọc, đồng thời bà con có thể tiến hành diệt tạp và khử trùng nước bằng Chlorine với liều lượng 3g/m3 nước. sau 5 – 7 ngày diệt tạp có thể gây màu nước và thả cá.
ca-giong-1
Chuẩn bị ao ương cá
Gây màu nước và ương cá giống
Tùy vào đối tượng cá ương nuôi cụ thể mà bà con có thể tiến hành gây màu nước hoặc không. Khi tiến hành ương một số loại cá như cá chép, mè hoa, mè trắng...cần phải gây màu nước để tạo thức ăn tự nhiên cho cá.
Cách gây màu nước: Gây màu bằng đạm và lân, với lượng 100 – 200g/100m3 nước theo tỷ lệ N:P là 2:1, bón khi trời có nắng đến khi nước có màu xanh vỏ đậu (đậu tằm) là có thể thả cá bột xuống ương.
- Giai đoạn cá bột, cần phải cho cá ăn bằng cám gạo nấu chín hoặc lòng đỏ trứng vì lúc này cá còn nhỏ chưa ăn được các thức ăn khác.
- Giai đoạn cá hương từ 2cm đến 5-6cm, cá ăn thức ăn của loài, vì vậy có thể ương đơn hoặc ương ghép. Đối với cá trắm cỏ giai đoạn này có thể ương với mật độ 3.500-4.000 con/100m2. Hoặc ương ghép với tỷ lệ 70% cá trắm cỏ và 30% cá mè hoa hoặc mè trắng. Cá giống ở giai đoạn từ 6-10 cm hoặc lớn hơn thì ương với mật độ 1.500-2.000 con/m2.
Chăm sóc và quản lý cá giống ương nuôi - THỦY SẢN MINH PHÚ
Ương nuôi cá chép giai đoạn từ 2-3cm ương lên 8-10cm, có thể cho ăn thức ăn nhân tạo với lượng 4 kg/10.000 con/ngày trong 2 tuần đầu và tăng lên ở các tuần tiếp theo. Thành phần chủ yếu là thức ăn xanh và cám gạo.
Cá trắm cỏ thức ăn chủ yếu là thực vật, các loại rau, bèo và bổ sung thêm chất bột. Lượng thức ăn cho cá từ 40-60 kg/10.000 cá, ở giai đoạn ương từ 5- 6cm lên 10-12cm. Bên cạnh đó, cần thường xuyên kiểm tra chất lượng nước và gây màu nước trong ao định kỳ 1 lần/tuần để đảm bảo thức ăn tự nhiên cho cá. Theo dõi, kiểm tra xem có bị nổi đầu vào buổi sáng sớm không để có biện pháp khắc phục kịp thời.

Bổ sung thêm chất bột cho cá
Phòng, trị bệnh cho cá giống gia đoạn ương nuôi - THỦY SẢN MINH PHÚ
Cần theo dõi và điều trị kịp thời các bệnh trên cá giống. Bằng cách bổ sung dinh dưỡng vào thức ăn cho cá, định kỳ dùng vôi với liều lượng 2 - 6 kg vôi bột/100m3 nước, hòa vào nước rải đều xuống ao 2 tuần/lần để phòng bệnh cho cá. Với phân chuồng, nếu muốn bón xuống ao thì cần ủ với vôi với lượng 5-7 kg/100 kg phân trong vòng 20 trước để tránh gây ra các bệnh về vi rút, vi khuẩn ở cá giồng và làm ô nhiễm môi trường nước.
ca-giong-3
Kiểm tra ao ương cá giống thường xuyên
Ngoài ra, để đảm bảo cá giống ít bị hao hụt khi vận chuyển xa, cần luyện ép cá bằng cách dùng trà gai, cào tre rồi kéo khắp ao làm cho ao sục bùn hoặc dùng lưới kéo cá dồn lại góc ao khoảng 20-30 phút rồi lại thả ra, làm liên tục trong vòng 1 tuần trước khi vận chuyển cá.
Ương nuôi cá giống là khâu quan trọng để tạo ra những con giống tốt phục vụ cho quy trình nuôi. Vì vậy, ngay từ bước này, người nuôi cần có cách ươm nuôi cũng như chăm sóc phù hợp để đạt chất lượng con giống tốt nhất. Ngoài ra, để đảm bảo quy trình nuôi thương thẩm đạt hiệu quả cao nhất, người nuôi nên lựa chọn những địa chỉ cung cấp giống uy tín như Trung tâm Thủy sản Minh Phú để lựa chọn những con giống tốt và chất lượng nhất.

Bội thu nhờ áp dụng thành công kỹ thuật ương cá bột lên cá giống

Cá bột hay còn gọi là cá ương là một giai đoạn phát triển trong vòng đời của loài cá. Đời sống của chúng bắt đầu từ khi trứng cá nở thành ấu trùng, sau đó chuyển đổi sang 1 cá thể thuần thục thì gọi là cá giống. Cá giống được coi là mô hình nhân tạo để tạo ra những thương phẩm hảo hạng ngày nay. Việc chủ động được nguồn giống sẽ phần nào giúp bà con ngư dân khắc phục được tình trạng nhập khẩu con giống không rõ nguồn gốc, tránh mầm bệnh và đảm bảo được chất lượng trong vụ nuôi.
Kỹ thuật ương cá bột lên cá giống
Điều kiện bể ương: Chuẩn bị ao đất để ươm cá giống. Đối với các loại cá nước ngọt như cá rô phi,.. chúng có thể sống được ở diện tích ao nuôi nhỏ hoặc lớn. Tuy nhiên, nếu như ao có diện tích quá nhỏ sẽ làm hiệu quả kinh tế kém và khó tạo ổn định môi trường, nhưng ao quá lớn việc chăm sóc quản lý phức tạp, do đó nên chọn ao ương giống khoảng từ 300 – 1000 m2.
Mô hình ươm cá bột lên cá giống trong ao
Mô hình ươm cá bột lên cá giống trong ao
Ao ương giống phải chủ động được trong việc cấp thoát nước khi cần thiết, chiều sâu mực nước trong ao phải từ 1,5 – 2m để cá có không gian di chuyển và trú ẩn khi trời nắng nóng hoặc trở rét. Mặt ao nên vớt hết bèo, rác để ánh mặt trời có thể chiếu xuống được nước, cung cấp nguồn oxi giúp cá hô hấp và tạo điều kiện cho các vi sinh vật phát triển làm nguồn thức ăn tự nhiên cho cá. Trên bờ ao, nên được bao bố kiên cố, phát hết cỏ dại tránh um tùm làm cho ếch nhái trú ẩn (vì trứng ếch nhái có thể mang mầm bệnh vào trong ao nuôi) và những động vật ăn thịt như rắn,.. có thể săn cá giống làm nguồn thức ăn.
Trước khi tiến hành thả cá ương nuôi lên cá giống, bà con nông dân cần cải tạo hệ thống ao bằng các biện pháp giống như thả cá nuôi, nhưng sau khi lấy nước vào 1/3 ao phải tiến hành bón phân tạo màu nước để tạo nguồn thức ăn cho cá. Thông thường các ngư dân thường sử dụng phân vô cơ (urê & super photphate) theo tỷ lệ N/P = 2/1, liều lượng tương ứng 200 g/100m3 nước; Sử dụng phân xanh từ những cây họ đậu hoặc lá cây so đũa với liệu lượng 10 – 15 kg/100m2, đối với phân xanh bà con lên bó lại thành nhiều bó rồi dìm xuống ao ương không cho nổi lên mặt nước. Trong trường họp sử dụng phân chuồng, nên điều chỉnh liều lượng từ 25 – 30 kg/100m2, rải đều khắp mặt đáy ao. Sau khi bón từ 3 – 5 ngày nước chuyển sang màu xanh nõn chuối thì tiến hành thả cá ương nuôi. Trong quá trình nuôi từ cá bột lên cá giống, bà con cần tăng mực nước lên từ từ trong vòng 5 – 7 ngày ở độ cao từ 1,2 – 1,5m.
Nhiều hộ gia đình không có ao để ương cá giống, có thể đào hố xây bể xi măng lót nilon để ương cá, diện tích khoảng vài chục m2, phải giữ được nước, không rò rỉ, chiều sâu mực nước duy trì ở mức 0,5 – 0,7 là thích hợp. Trước khi ương, bể phải được rửa sạch phơi nắng từ 1 -  ngày sau đó cho nước sạch vào bể, ngày hôm sau có thể cho cá vào uong. Do diện tích nhỏ, nên khi ương cá giống trong bể không cần phải bón phân, có thể sử dụng nguồn thức ăn chế biến trong những ngày đầu để cá có thể sinh trưởng tốt. Lưu ý nên thả nhiều thức ăn xuống bể gấp 2 lần để gây màu nước xanh, tạo điều kiện cho tảo phát triển làm thức ăn cho cá.
Thức ăn cho cá ương
Đối với ao nuôi, mật độ thả cá tù 1.500 – 2.000 con/m3 là thích hợp. Trong tuần đầu tiên, cho cá bột ăn lòng đỏ trứng gà và sữa bột đậu nành với khẩu phần: 3 lòng đỏ trứng gà với 100g sữa bột cho 10.000 con cá bột/ngày. Bà con luộc chín lòng đỏ trứng gà rồi nghiền nhỏ hòa tan với nước sạch, đậu nành ngâm trong nước ấm 24h rồi đem xay nhuyễn thành bột, rồi hòa tan với nước rải đều xung quanh ao. Mỗi ngày cho ăn 3 lần vào: 7h sáng, 11h trưa và 17h chiều, đối với bữa tối lên tăng lượng thức ăn lên gấp đôi để cá có thể dự trữ năng lượng trong ban đêm.
Nên cho cá giống ăn vào thòi điểm sáng và chiều tối
Nên cho cá giống ăn vào thời điểm sáng và chiều tối
Bắt đầu từ tuần thứ 2 trở đi, các hộ nuôi tiến hành cho cá giống ăn cám, tấm gạo và bột cá (hoặc cá tươi nhỏ) với tỷ lệ tương ứng như sau: 30% cám + 70% bột cá, mỗi lần cho ăn với liều lượng từ 300 – 500 g/10.000 cá/ngày. Thức ăn từ bột cá hay gạo tấm lên được nấu chín rồi đặt trong sàn ăn, mỗi ngày cho ăn  lần vào sáng sớm và chiều mát, mỗi lần chia đều theo tỷ lệ 50:50. Tránh cho cá ăn vào lúc tròi nắng hoặc mưa to.
Sau khi ương cá giống được 1 tháng, thành phần thức ăn của cá sẽ được đa dạng hơn gồm: cám gạo + bột cá (hoặc phế phẩm của nhà máy thủy sản như đầu cá, tôm nghiền nhỏ) theo tỷ lệ 40% cám gạo + 60% bột cá. Khẩu phần ăn từ 3 – 5 % so với trọng lượng đàn/ngày. Ngoài ra, trong ao ương cá giống còn có nguồn thức ăn tự nhiên từ các loại sinh vật phù du phát triển trong ao với hàm lượng dinh dưỡng lớn. Đây được coi là nguồn thức ăn tươi sống rất tốt cho sự phát triển của cá giống do đó trong ao ương cá luôn duy trì màu nước xanh (nguồn nước màu xanh này có thể được tạo nên bằng cách gây màu nước hoặc do nguồn thức ăn dư thừa trong quá trình cho cá ăn).
Chăm sóc, quản lý ao ương cá giống
Cần đảm bảo đủ số lượng và chất lượng nguồn thức ăn trong quá trình ương cá bột lên cá giống, nếu thiếu thức ăn cá sẽ không phát triển đồng đều và những con cá lớn hơn sẽ ăn các con cá nhỏ, làm hao hụt tỷ lệ cá giống cho sản xuất. Trong quá trình ương giống nên hạn chế thay nước nhiều lần nếu như nguồn nước không bị ô nhiễm, bởi vì kích thước của cá bột nhỏ dễ bị lọt ra ngoài từ ống thoát nước, mặt khác nguồn thức ăn tự nhiên cho cá sẽ không được đảm bảo. Tuy nhiên để kích thích hoạt động bắt mồi của cá, cũng như thay đổi điều kiện sinh thái của môi trương nuôi bà con nên thay nước định kỳ 10 – 15 ngày/lần, mỗi lần thay 1/3 lượng nước có trong ao ương.
Đối với ao ương cá giống, trên bề mặt nước có thể thả bèo hoặc rau muống với tỷ lệ bằng 1/20 diện tích nhằm hấp thu một phần chất dinh dưỡng tránh ô nhiễm môi trường và hạn chế sự phát triển quá mức của tảo. Bên cạnh đó, cần giữ gìn vệ sinh trong không gian ương giống, theo dõi tình hình hoạt động của cá giống để có biện pháp phòng ngừa dịch bệnh và dịch hại sát cá ương. Dọn sạch cây cỏ xung quanh bờ ao, kiểm tra hệ thống cổng cấp thoát nước có rò rỉ hay không để tránh cá theo dòng chảy ra ngoài làm hao hụt sản lượng vụ nuôi. Sau khi cá giống đạt 60 ngày tuổi đạt chiều dài 3 – 5 cm và có trọng lượng 1 – 2 g/con, cho tỷ sống đạt 15 – 30%.
Mô hình sinh sản nhân tạo cá rô phi
Cá rô đơn tính dòng đường nghiệp được coi là thương phẩm của người dân tỉnh Hòa Bình. Tại khu vực này, có nhiều cơ sở nhân giống giống cá này cung cấp sống lượng cá giống lớn cho các tỉnh lân cận. Việc sinh sản nhân tạo cá rô phi đơn tính đòi hỏi phải có kỹ thuật khoa học từ khâu chọn lọc cá bố mẹ đến chăm sóc và quản lý.
Kỹ thuật tạo cá rô phi đơn tính từ lai tạo
Kỹ thuật sinh sản cá rô phi đơn tính từ lai tạo
Chọn cá giống bố mẹ để nhân tạo
Vào đầu mùa mưa, khi cá đã thành thục trong vấn đề sinh dục, sẵn sàng đẻ trứng thì tiến hành cho cá nhân giống để tạo nguồn cá giống phục vụ cho nuôi trồng thủy sản. Qúa trình chọn cá bố mẹ cho sinh sản cần tiến hành một cách khoa học: cá giống phải thật khỏe mạnh, không xay xát; tỉ lệ đực cái xấp xỉ 1:2 (1 đực : 2 cái). Cá giống cái bụng phải to mềm, lỗ hậu môn lồi, màu hồng. Con đực khi vuốt nhẹ có tinh màu trắng sữa chảy ra.
Cá rô phi giống được nuôi trong lồng lưới plastic có kích thước 2 x 2.5 x 2 m, trọng lượng cá giống dao động từ 7 – 0 con/kg, thả với mật độ là 5 kg/m3. Trong quá trình nuôi, thức ăn chế biến có hàm lượng protein dao động từ 30 – 32 % được dùng để cho cá ăn với liều lượng tù 1,5 – 2 % trọng lượng cơ thể/ngày.
Nuôi vỗ thành thục cá giống bố mẹ
Kích thích sinh sản của cá rô phi
Không gian cho cá rô phi sinh sản có thể làm bằng bể xi măng, bể composite hoặc thau nhựa,.. Tiến hành rửa sạch dụng cụ cho đẻ, lấy nước sạch với chiều sâu 20 – 40 cm. Các loại hormon sử dụng để kích thích cá rô phi sinh sản như HCG, LH-Rha và não thùy thể cá chép với các mức liều lượng khác nhau. Bằng phương pháp tiêm một liều quyết định duy nhất để kích thích cá cái sinh sản, riêng cá đực liều sử dụng chỉ bằng 1/3 đến ½ liều sử dụng cho cá cái, tỷ lệ cá đực cái sinh sản là 1:1.
Bể ấp trứng dùng bể composite hoặc bể xi măng, tiến hành rửa sạch bể, lấy nước vào với chiều sâu khoảng 40 – 60 cm. Trong thời gian ấp trứng phải điều chỉnh sục khí để trứng cá không gom lại 1 chỗ và định kỳ thay nước 1 lần/ngày. Sau khi cá nở từ 2 – 3 ngày, chuyển cá xuống ao để ương thành cá giống.
Casachsongda.com

Phương pháp ương cá bột thành cá giống hiệu quả tối ưu

Hiện nay, ương nuôi cá bột thành cá giống đang được nhiều hộ gia đình nuôi cá nước ngọt thực hiện. Tuy nhiên, không phải cứ ương nuôi thì sẽ đạt được kết quả cao. Vì vậy, để có đàn giống tốt phục vụ cho nuôi thương phẩm, người nuôi cần đặc biệt chú trọng đến khâu ương nuôi từ giai đoạn cá bột cho tới cá giống.
Chuẩn bị ao ương cá giống
Ao thả cá ương cần phải tẩy dọn sạch sẽ, phải sên vét bùn đáy ao, không nên để lớp bùn đáy quá dày. Tiếp đó, sửa dọn bờ chắc chắn, lấp các lỗ mọi và hang hốc quanh ao. Rào lưới xung quanh ao để ngăn ngừa dịch hại của cá lọt vào ao ương. Bên cạnh đó, người nuôi cần bón vôi khắp ao, liều lượng 10 - 15 kg/100m2, để khử trùng, diệt một số vi khuẩn gây bệnh cho cá và cải tạo nền đáy. Ngoài ra, nếu có điều kiện nên đào các rãnh xung quanh ao và bón vôi trên bờ ao để tránh phèn hay chất bẩn bị rửa trôi xuống ao khi trời mưa gió. Sau khi bón vôi thì phơi đáy ao 3 - 5 ngày (vùng phèn không nên phơi đáy ao) để khử trùng.
Ao ương dựa vào diện tích có sẵn của từng người nuôi, nhưng tốt nhất từ 500 - 1.000m2, đảm bảo hiệu quả ương nuôi tốt nhất. Ao sâu 1 - 1,5m, vét cho đáy phẳng hơi nghiêng về phía cống để thuận lợi cho việc thay nước trong ao. Ao phải ở vị trí thuận lợi, chủ động cấp thoát nước khi cần, mặt ao thoáng và bờ ao chắc chắn không có cây rậm.

ca-giong-1
Chuẩn bị ao ương cá giống
Với các ao không có điều kiện tháo cạn nước hoặc muốn diệt hết cá tạp, cá dữ còn trong lớp bùn đáy, người nuôi có thể dùng rễ dây thuốc cá ngâm một đêm cho mềm ra. Sau đó, đập kỹ vắt lấy nước rồi pha loãng tạt đều khắp ao (1kg rễ cho 100m3 nước). Cần lưu ý, nên thuốc cá vào buổi trưa, vì lúc này nước đã được nung nóng bởi ánh nắng mặt trời, cá dễ bị nhiễm độc hơn. Ngoài ra, có thể dùng chế phẩm dạng bột có chứa Rotenon được đóng gói sẵn để diệt cá tạp. Liều lượng dùng theo chỉ dẫn trên bao bì.
Lấy nước vào ao ương: Nước lấy vào ao ương phải được lọc thật kỹ qua lưới mịn hoặc  có thể thêm trấu vào túi lưới để không cho cá tạp, cá dữ và các sinh vật gây hại khác vào ao ương ăn hại cá và cạnh tranh thức ăn của cá. Sau khi lấy nước xong cần kiểm tra pH nước, độ PH khoảng 6,5 - 8,5 là có thể thả cá.
Cách thả cá bột
Cá bột cần được thả vào ao ương trong vòng 24 giờ sau khi lấy nước vào, để cho những dịch hại của cá bột (giáp xác chân chèo, nòng nọc, bọ gạo, bắp cày…) không kịp phát triển. Sau đó, những thức ăn dư thừa của cá bột (bột đậu, cám…) sẽ cung cấp thêm dinh dưỡng giúp tảo phát triển và gây màu cho ao. Nhưng nếu sau khi lấy nước vào hơn 2 ngày vẫn chưa thả cá bột thì người nuôi nên tháo cạn nước và cải tạo lại ao từ đầu. Cuối cùng, thả cá bột xuống ao với mật độ khoảng 300 - 500 con/m2. Lưu ý, thả cá lúc sáng sớm hoặc chiều mát để tránh trường hợp cá chết.
Trước khi thả cá bột, nên ngâm túi cá trong nước khoảng 10 - 15 phút để tránh cá bị sốc nhiệt với môi trường nước mới, sau đó từ từ thả ra ngoài ao. Nếu đựng cá bột  trong bao nilon: Thả bao nilon cá xuống ao 10 - 15 phút cho cân bằng nhiệt độ bên trong và bên ngoài, sau đó mở miệng bao để cho cá ra từ từ. Trường hợp cá bột chứa trong dụng cụ hở (thau, thùng), cần thêm từ từ nước ngoài ao vào dụng cụ chứa cá vài lần cho cá quen với nước ao mới, sau 10 - 15 phút chuyển thùng xuống ao, từ từ nghiêng thùng cho cá ra ngoài.
ca-giong-1
Thả cá bột vào ao ương
Thức ăn cho cá ương
Trong 10 ngày đầu: cho cá bột ăn lòng đỏ trứng và bột đậu nành. Khẩu phần ăn cho 100.000 cá bột/ngày gồm: 5 lòng đỏ trứng + 600g bột đậu nành. Cách cho ăn: Lòng đỏ trứng luộc chín, bóp nhuyễn, hòa tan trong nước cùng bột đậu nành. Sau đó tạt đều thức ăn khắp ao và mỗi ngày cho ăn 3 lần: 7 giờ , 11 giờ, 17 giờ.
Từ ngày thứ 11 đến ngày thứ 20: bắt đầu cho cá ăn bột cá, cám và bột đậu nành. Khẩu phần cho 100.000 cá/ngày gồm: 300g đậu nành + 300g cám + 300g bột cá.  Cách cho ăn: Trộn đều 3 loại thức ăn trên sau đó rải đều trên mặt ao. Ngày cho ăn 3 lần.
Từ ngày thứ 21 trở đi giảm lượng bột đậu nành, chỉ cho ăn bột cá và cám, trộn cám cùng bột cá với tỷ lệ bằng nhau rồi cho cá ăn ngày 2 - 3 lần. Lưu ý, lượng thức ăn chiếm khoảng 15 - 20% trọng lượng cá nuôi. Cho ăn như vậy đến khi cá đạt kích cỡ giống khoảng 300 - 500 con/kg.
Lưu ý: Thức ăn nên trộn thêm Vitamin C liều lượng 30 - 40 mg/kg thức ăn. Sau khoảng 15 - 20 ngày, có thể cho cá ăn bằng thức ăn viên công nghiệp loại viên nhỏ mảnh có hàm lượng đạm trên 30%.
Bổ sung thức ăn bột cho cá ương
Chăm sóc quản lý ao ương
Trong quá trình ương hạn chế thay nước, nhưng nếu thấy nước ao bẩn hoặc có điều kiện thì nên thay 30% nước để kích thích hoạt động bắt mồi của cá. Mỗi ngày trước khi cho cá ăn phải vệ sinh sàng ăn và kiểm tra lượng thức ăn còn lại để tăng giảm hợp lý, tránh tình trạng dư thừa làm thối nước hoặc thiếu thức ăn cá sẽ tranh giành lẫn nhau. Đảm bảo đủ số lượng và chất lượng thức ăn giúp cá mau lớn, đạt tỷ lệ sống cao.
Thu hoạch cá giống
Sau khi ương 45 - 60 ngày, cá đạt kích cỡ 300 - 700 con/kg, lúc này tùy loại cá mà người nuôi có thể thu hoạch. Trước khi thu hoạch 1 tuần, hằng ngày phải luyện cá bằng cách giảm bớt lượng thức ăn (chỉ còn 1/3 - 1/2 so với bình thường) hay thỉnh thoảng cho cá nhịn đói và làm đục nước ao. Dùng lưới có kích thước mắt lưới nhỏ kéo cá để tránh cá bị xây xát, kéo lưới dồn cá lại một góc ao khoảng từ 10 - 15 phút, lúc 9 - 10 giờ sáng, làm liên tục 2 - 4 ngày và nhốt trong vèo trước khi xuất bán. Trong quá trình thu hoạch cá giống, các thao tác phải thật nhanh và nhẹ nhàng để tránh làm cá mệt và nhằm hạn chế tỷ lệ hao hụt khi vận chuyển.
Để hạn chế chi phí con giống, người nuôi có thể tự ương với phương pháp ương cá bột thành cá giống trên đây. Tuy nhiên, nếu muốn đảm bảo con giống khỏe mạnh, không mầm bệnh và mang lại hiệu quả kinh tế cao bà con nên tìm những địa chỉ cung cấp uy tín. Một trong những nơi uy tín hiện nay - Trung tâm Thủy sản Minh Phú sẽ giúp bà con lựa chọn những con giống tốt nhất.

Cá giống chết hàng loạt vì ao ương không đạt tiêu chuẩn

“Vì sao cùng áp dụng một kỹ thuật ương nuôi cho cùng một loại cá giống lại cho mức sản lượng khác nhau?”  Đây là câu hỏi được đặt ra bởi nhiều hộ gia đình và cơ sở nuôi trồng thủy sản. Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi đã làm một khảo sát nhỏ với hơn 100 hộ gia đình lần đầu tiên nuôi thả cá giống tại tỉnh Hải Dương. Kết quả của cuộc khảo sát cho thấy, lượng cá giống chết do ao nuôi không đạt tiêu chuẩn cao hơn rất nhiều so với lượng cá giống chết do chăm sóc không đúng kỹ thuật.  
Vậy làm thế nào để cải thiện được tình trạng cá chết hàng loạt do ao ương không đạt tiêu chuẩn ? Dưới đây là bài viết chia sẻ về “Kỹ thuật chuẩn bị ao ương” rất chi tiết để giúp bà con tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm trong nghề nuôi trồng thủy sản.
Như thế nào là “Ao ương cá giống đạt tiêu chuẩn” ?
-Độ sâu ao ương: ao quá sâu sẽ khiến thức ăn tự nhiên phát triển không tập trung, khiến cá khó kiếm mồi. Ao quá nông lại khiến cá dễ bị tác động xấu bởi những biến đổi của môi trường. Theo kinh nghiệm của nhiều bà con ương nuôi cá lâu năm cho biết, độ sâu thích hợp của ao nằm trong khoảng từ 1,2 – 1,5m. Ở độ sâu này, cá có thể phát triển khỏe mạnh, đồng thời những sinh vật phù du và nguồn thức ăn tự nhiên của cá cũng dồi dào hơn.
-Diện tích ao ương: trên thực tế, không có thước đo cụ thể nào cho việc lựa chọn diện tích ao ương. Tuy nhiên, diện tích ao ương từ 500 – 2000m2 được xem là phù hợp để nuôi thả cá giống. Diện tích ao không quá nhỏ cũng không quá lớn giúp cho môi trường phát triển của cá được ấm áp về mùa đông và thoáng mát về mùa hè.
cai tap ao
Hút bùn cho ao ương nuôi cá giống
-Độ dày của lớp bùn: thông thường với những ao nuôi cá lâu năm cần được hút bùn trước khi tiến hành thả cá giống. Độ dày của lớn bùn không được cao hơn 20 cm và không được thấp dưới 10cm. Nếu lượng bùn quá ít sẽ khiến đáy ao trơ và gây ảnh hưởng đến việc tạo màu giúp nuôi trồng thức ăn tự nhiên cho cá giống. Ngược lại lớp bùn quá dày sẽ khiến ao tích đọng nhiều khí độc, gây ảnh hưởng đến môi trường sống của cá.
-Nguồn nước cấp cho ao ương: bà con nên lựa chọn nguồn nước cấp cho ao ương đảm bảo được độ PH nằm trong khoảng từ 6,5 – 8,0 và lượng oxy hòa tan dao động từ 4 – 8 mg/l. Ngoài ra, cần sử dụng nguồn nước sạch, không nhiễm hóa chất hay chất thải sinh học trong quá trình nuôi thả cá giống để đảm bảo cá phát triển khỏe mạnh, cho sản lượng tối ưu.
Kỹ thuật chuẩn bị ao ương đạt tiêu chuẩn
- Rắc vôi cho ao: Trước khi tiến hành rắc vôi, cần tát cạn ao và lớp bùn dưới đáy ao. Sau đó rải vôi quanh ao theo tỷ lệ 10kg vôi/100m2. Những ao có độ chua cao cần tăng lượng vôi bón lên 15kg/100m2. Hoạt động rải vôi cho ao giúp tiêu diệt những loài cá dữ, nòng nọc, ký sinh trùng gây hại… Ngoài ra còn có tác dụng cân bằng độ PH, đảm bảo môi trường sống cho cá giống phát triển khỏe mạnh.
cai-tao-aoRắc vôi để giảm độ chua cho ao
- Bón phân: Hoạt động bón phân nhằm bổ sung các chất dinh dưỡng, giúp những loài sinh vật nổi phát triển để làm thức ăn cho cá. Hoạt động này diễn ra sau khi bón vôi cho ao từ 2 đến 3 ngày. Tỷ lệ phân hữu cơ được sử dụng cho ao khoảng 20 – 30kg/100m2 diện tích ao. Tuy nhiên, nếu sử dụng phân xanh, cần tăng lượng phân lên 50kg/100m2. Bà con cũng nên lưu ý: với phân hữu cơ, cần được ủ cùng vôi bột trước khi bón từ 6 ngày đến 1 tuần, trọng lượng vôi chiếm 15% trọng lượng phân bón.
- Lấy nước vào ao: Nhằm giúp quá trình phân hủy phân bón diễn ra nhanh hơn, nên lấy nước vào ngập ao từ 0,3–0,4m, sau đó ngâm ao trong vòng 2 – 3 ngày. Khi phân bón đã tan hết, tiếp tục lấy thêm nước để hoàn thành giai đoạn “Chuẩn bị ao ương”. Có một lưu ý nhỏ trong khi tiến hành bước làm này là trước khi lấy nước, cần sử dụng lưới mắt nhỏ để lọc bỏ những con cá bé, cá rô phi con và các loài địch gây hại cho cá giống.
Chuẩn bị ao ương được xem là bước khởi đầu trong mô hình nuôi cá giống trong ao. Vì vậy, để vụ cá thành công, bước khởi đầu nên được tiến hành thuận lợi. Nhằm mục đích giảm tỷ lệ cá chết do công tác chuẩn bị ao nuôi không đúng kỹ thuật, bà con nhân dân cần nắm vững được quy trình trên và áp dụng vào mô hình nuôi trồng thực tế.

Phương pháp lai cá giống rô phi đơn tính toàn đực

Việc lai tạo cá giống rô phi trên thế giới hiện nay gặp nhiều khó khăn, khi tỉ lệ kích thước giữa cá rô phi đực và cái không đồng đều dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. Một trong những biện pháp khắc phục tình trạng trên là phương pháp lai tạo cá rô phi đơn tính toàn đực (chiếm 95%) bằng hormone tính đực Methyltestosteron (viết tắt: MT).
Lai tạo cá giống rô phi đơn tính toàn đực như thế nào?
Vấn đề này trên thế giới đã thực hiện thành công từ năm 1990. Đến năm 1995, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I tại Đình Bảng – Hà Bắc đã nhập công nghệ và sản xuất thành công nửa triệu cá rô phi giống đơn tính đực ở giai đoạn cá hương, đạt chỉ tiêu quy trình kỹ thuật. Từ đó, mở ra một kỷ nguyên mới cho công nghệ nuôi cá rô phi thương phẩm phát triển ở nước ta.
Nuôi vỗ cá giống bố mẹ
Cá giống bố mẹ có tuổi đời từ 1 – 2 năm, khối lượng 100 – 150g/con trở lên. Số lượng đực và cái được tuyển chọn theo tỷ lệ ½ - 1/3, cá cái có 3 lỗ ở bụng, cá đực có 2 lỗ. Trước khi nuôi cá giống, bà con dùng giai có mặt lưới cỡ 1mm đặt vào giữa lòng ao. Một giai nhốt cá đực, 2 – 3 giai nhốt cá cái. Cũng có thể nuôi vỗ cá giống bố mẹ trong các ao, hoặc bể xây cỡ nhỏ và nuôi riêng 2 cá thể đực và cái mỗi giới 1 giai. Mật độ nuôi trung bình nên duy trì từ 5 – 6 con/m2 diện tích ao. Sử dụng nguồn thức ăn tổng hợp có hàm lượng đạm 30 – 32 %, với khẩu phần 2 – 2,5 % khối lượng cá mỗi ngày. Trong quá trình nuôi cá giống, có thể bón thêm phân vô cơ để gây nguồn thức ăn tự nhiên là sinh vật phù du, với liều lượng 40g đạm + 20g lân cho 100m2 ao trong 1 tuần lễ.
Cá bột được nhân giống trong giai
Cá bột được nhân giống trong giai
Cho cá đẻ trong giai
Giai cho cá đẻ được cắm trong ao theo từng cụm 3 cái 1, với mực nước sâu 0,8m. Các hộ nuôi nên làm 12 giai chia đều thành 4 cụm cho 1 đợt sinh sản để thu được trứng thụ tinh tập trung. Giai sinh sản thường có kích cỡ 2,7m x 4,2m x 1m, cỡ mặt lưới là 1mm. Các giai cũng có thể được đặt trong bể xi măng với nguồn nước chảy nhẹ. Ở mỗi một giai, bà con chọn giới tính của cá theo tỷ lệ 6 cái + 3 đực để bắt đầu quá trình sinh sản.
Thu trứng và ấp trứng
Khi cá giống bố mẹ bắt đầu quá trình đẻ trứng, cứ 5 – 7 ngày bà con tiến hành thu trứng 1 lần từ miệng cá (vì cá rô phi ngậm trứng đã thụ tinh trong miệng và ấp ở đó). Sử dụng vợt 2 lớp lưới mỏng, lỗ nhỏ, lớp lưới có mặt dưới dày như vợt vớt cá bột, lớp trên thưa có mặt lưới  2 cm. Đáy lưới lớp dưới thấp hơn đáy trên 8 – 10 cm để khi vợt bắt cá, cá giống quẫy không làm hỏng trứng.
Trong quá trình vớt trứng, 1 người dùng 1 tay cầm vợt vớt cá, tay kia đi găng bằng vải, giữ và bóp nhẹ miệng cá để cá nhả trừng vào trong lưới, người khác dùng bát nhựa sạch đựng 1 ít nước để hứng trứng. Trứng cá giống được phân ra thành 4 nhóm: nhóm chưa rõ mắt phôi; nhóm đã rõ mắt đen; nhóm sắp mở; nhóm đã nở. Sau đó cho ấp theo các nhóm trong cùng giai đoạn. Đàn cá giống bố mẹ sau khi lấy trứng, thả về nuôi vỗ đực, cái riêng, sau 3 tuần lại cho sinh sản tiếp.
Đối với trứng cá khi được phân thành 4 nhóm như ở trên, bà con nông dân nên sử dụng hộp nhựa, tôn hoặc khay men để ấp trứng với mật độ từ 3 – 5 trứng/cm2. Bình thủy tinh hoặc nhựa trong, hình trụ thể tích 6 lít ấp 2,2 kg trứng là hợp lý. Đối với bình ấp trứng, nên có dòng nước chảy nhẹ qua ống dẫn từ trên xuống đáy bình, không cho nước phun từ đáy bình lên. Giữ nhiệt độ nước trong khoảng 27 – 30 độ C sau 4 – 5 ngày cá sẽ nở.
Chuyển giới tính cá bột thành giới tính đực
Khi cá bột đã bơi ngang được và bắt đầu biết ăn thì chuyển sang giai đoạn nuôi, cho chúng ăn bằng thức ăn có trộn hooc-mon tính đực để chuyển giới tính. Sử dụng giai ương cá bột với kích cỡ 3m x 2m x 1m, mặt lưới cỡ 1mm. Mật độ ương cá bột từ 10 – 12 con/lít. Trong tuần đầu tiên ương cá, sử dụng 0,6 kg đạm và 0,7 kg lân cho 100 m2 mặt giai. Sau đó dùng 50 microgam tính đực trong 1 kg thức ăn cho 100 m2 giai để chuyển giới tính cho cá.
Cách pha chế
Sử dụng 1g MT cho hòa tan trong 1 lít ethnol 95 độ. Sau đó dùng bột cá nhạt không bỏ muối khi chế biến hoặc thức ăn tổng hợp có 35% đạm, nghiền mịn, sàng qua mặt lưới cỡ 0,85mm. Lấy 925g thức ăn từ bột cá trộn với 14g Prelmix, 1g vitamin C (hoặc axit ascobic). Trộn lẫn dung dịch vừa hòa tan với 940ml ethanol vào thức ăn đã sàng kỹ.
Nguồn thức ăn vừa được trộn đều bà con dùng đũa quấy đều trong vòng 30 phút để cho hơi ethanol bay ra, sau đó phơi khô rồi sàng lại. Cho thêm 1,4g Tetramicin, 30ml dầu thực vật và 30g dầu gan cá vào thức ăn, trộn đều trong 10 phút rồi cho vào túi nilon cho cá ăn dần.
Chăm sóc cá giống
Cá giống khi được chuyển đổi giới tính, 5 ngày đầu mỗi ngày cho ăn lượng thức ăn bằng 25% khối lượng cá; 5 ngày tiếp theo bằng 20%; 5 ngày sau nữa bằng 15% và 4 ngày cuối cùng cho ăn bằng 10% khối lượng cá. Trung bình mỗi ngày cho cá giống ăn 4 – 5 lần, vãi đều khắp trong giai. Nên cho ăn vào lúc trời mát tránh ánh nắng trực tiếp, bữa tối nên cho cá ăn nhiều hơn ban ngày 1 chút để cá dự trữ năng lượng về đêm.
Ươm cá giống trong lồng bè
Ương cá giống trong lồng bè
Ương cá bột đã xử lý Methyltestosteron
- Ao ương: Tiến hành tẩy vôi và diệt khuẩn, trừ chua, diệt tạp khuẩn và bón lót phân cho ao ương như khi ương các loại khác.
- Mật độ: tù 150 – 160 con/m2 ao, nếu ương bằng giai, mật độ 1000 con/m2.
- Thức ăn: cho ăn cám gạo và các thức ăn tự nhiên như rau cỏ xay nhuyễn hay cá con.
- Chăm sóc: Thường xuyên vệ sinh giai để khỏi bí nước lưu thông trong và ngoài giai. Nếu uong trực tiếp vào ao phải bảo vệ, diệt các loại địch hại ăn cá bột như rắn, ếch, nhái…
Kiểm tra kết quả của việc chuyển đổi giới tính cho cá
Khi cá đã đạt kích cỡ từ 2 – 3 g/con, lấy 100 – 200 con ngẫu nhiên để xác định giới tính cá cái dưới bụng có 3 lỗ, cá đực có 2 lỗ. Nếu cá đực chiếm 95% trở lên là mô hình nhân giống đạt yêu cầu. Đến lúc cá đạt cỡ chiều dài từ 4 – 7 cm, dùng làm cá giống để thả vào các ao, đầm nuôi thành cá thịt.
Sử dụng đồng (Cu) trong nuôi trồng thủy sản nước ngọt và ao
Đồng có nhiều loại được sử dụng trong nước như đồng sunfat, có sẵn hoặc tinh thể, dạng bột thường được gọi là “đá xanh” hoặc “bột xanh”. Đồng Sunfat tan trong nước, hòa tan và khá dễ dàng khi trộn với nước. Trước khi sử dụng bất kỳ hình thức xử lý đồng nào, bạn cần đo tổng độ kiềm của nước (không độ cứng hoặc pH) vì độc tính của đồng đến cá tăng khi tổng độ kiềm giảm. Nếu tổng độ kiềm dưới 50 ppm, xử lý đồng không được khuyến khích vì có nguy cơ cao giết chết cá giống. Nếu tổng độ kiềm lớn hơn 250 ppm, không sử dụng hơn 2,5 ppm đồng sunfat. Để sử dụng đồng sunfat, đầu tiên bà con phải hòa tan trong nước. Sau khi cân số lượng đồng sunfat cần thiết để điều trị khối lượng nước, trộn nó trong nước đảm bảo rằng tất cả đều tan. Đồng sunfat nặng hơn nhiều so với nước và nếu bà con ném các tinh thể hoặc bột xuống ao, nó sẽ chìm xuống phía dưới nơi bùn ao sẽ hình thành liên kết hóa học và bao quanh nó.
Đồng có thể được sử dụng trong ao nuôi, vì chúng có thể kiểm soát được tảo trong ao nuôi, bao gồm tảo sợi và tảo lớn (như Chara). Hiện nay, trong nuôi trồng thủy sản đã có nhiều nỗ lớn trong việc sử dụng đồng nhằm giảm sự phong phú các loại tảo gây mất hương vị của cá.

Hợp chất đồng giúp diệt tảo trong ao
Hợp chất đồng giúp diệt tảo trong ao
Trong một ao có nhiều tảo, phương pháp điều trị đồng có thể gây ra nồng độ oxy giảm dẫn đến cá chết. Tảo là nguồn sản xuất oxy chính và loại bỏ nó tức là loại bỏ nguồn oxy khỏi ao. Ngoài ra, oxy sẽ được tiêu thụ khi tảo phân hủy, nếu bà con đang tiến hành diệt tảo thì hoặc xử lý một loạt các liều nhỏ hơn theo thời gian hoặc sục khí khẩn cấp. Đồng cũng là hoạt chất độc hại cho động vật không xuong sống, chẳng hạn như ốc và hầu hết các động vật phù du trong ao như bọ, trùng roi, luân trùng,.. vì vậy nếu bà con đang dựa trên các động vật phù du như một nguồn thực phẩm (túc là ao cá con) thì có thể không sử dụng đồng.
Nhìn chung, phương pháp điều trị bằng đồng rất có hiệu quả trong việc sàng lọc các loại tảo có trong ao nuôi, tuy nhiên cần thận trọng để các hoạt chất của đồng không ảnh hưởng lên cơ thể của cá giống. Nếu nước có độ kiềm thấp hoặc nếu có 1 loại tảo nở hoa nặng và không có sục khí thì phương pháp này không được khuyến khích trong nuôi trồng thủy sản.

Casachsongda.com